Get Adobe Flash player
Tham Khảo Cây Gậy Của Người Chăn Bầy NGƯỜI LÃNH ĐẠO CẦN BIẾT ĐIỀU GÌ? C7.2 MỘT ĐỨC TIN ĐÚNG ĐẮN

Chương 2: MỘT ĐỨC TIN ĐÚNG ĐẮN

Khi còn là một nhà cải chánh trẻ, Martin Luther bác bỏ thơ Giacơ và nghĩ rằng thư này phải bị loại ra khỏi tập Tuyển Kinh. Nhưng sau đó, ông đã thay đổi quan điểm vì thấy những người theo ông sống rất tội lỗi. Họ xưng mình là công bình nhờ đức tin nhưng đời sống của họ không chứng tỏ họ có một đức tin đúng đắn.

"Họ xưng mình biết Đức Chúa Trời nhưng theo những việc làm thì đều từ chối Ngài thật là đáng ghét, trái nghịch và không thể làm một việc lành nào hết "(Tít 1:16).

Những người đi theo Luther đã rơi vào lỗi lầm mà Phaolô đã cảnh báo. Sau khi đã đặt một nền tảng vững chắc cho sự xưng công bình Phaolô đã lưu ý các tín đồ để họ không diễn giải cũng như áp dụng sai trật điều ông trình bày.

"Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Chúng ta phải cứ ở trong tội lỗi hầu cho ân điển được dư dật chăng? Chẳng hề như vậy!

...Chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp têm trong sự chết Ngài để cho... chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy.

...vì biết rõ rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài, hầu cho thân thể của tội lỗi bị tiêu diệt đi và chúng ta không phục dưới tội lỗi nữa. Vì ai đã chết thì được thoát khỏi tội lỗi.

Vậy anh em cũng hãy coi mình như chết về tội lỗi, vì tội lỗi không cai trị trên anh em đâu, bởi anh em chẳng thuộc dưới luật pháp mà thuộc dưới ân điển "(Rô 6:1-14).

A. PHAOLÔ VÀ GIACƠ KHÔNG CÓ SỰ MÂU THUẪN

Kinh Thánh trong tiếng Anh đã không được rõ ràng tại phần thơ Giacơ. Do đó nhiều người đã nghĩ rằng Giacơ nói ngược lại với Phaolô. Nếu hiểu đúng sách Giacơ thì không hề có sự mâu thuẫn giữa Phaolô và Giacơ.

Thật vậy, Giacơ đã giải thích vô cùng rõ ràng nếu cố gắng để được xưng công bình bởi luật pháp là một điều vô vọng. "Vì người nào giữ trọn luật pháp, mà phạm một điều răn, thì cũng đáng tội như phạm hết thảy "(Gia 2:10).

Ngoại trừ Chúa Giêxu, có ai trên đời này không hề phạm một tội nào không? Chúng ta hãy xem lý lẽ đáng kinh ngạc này của Giacơ: chỉ cần phạm một điều răn thôi thì cũng như phạm hết thảy.

Một lời nói dối biến tôi thành kẻ dối trá. Giống vậy, một tội lỗi biến tôi thành một tội nhân đáng chết "vì tiền công của tội lỗi là sự chết " (Rô 6:23). "Linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết "(Êxê 18:20).

Do đó, thật vô ích khi suy nghĩ rằng chúng ta có thể tự cứu lấy mình bởi luật pháp, sự cắt bì hay việc lành. Chúng ta cần Đấng Cứu Thế (một Đấng nào đó để giúp chúng ta không liên quan gì đến những gì chúng ta có thể làm). Cảm tạ Đức Chúa Trời Ngài đã cung ứng điều này cho tôi trong Con Ngài, Chúa Giêxu, Đấng Cứu Chuộc tôi!

B. ĐỨC TIN ĐƯỢC CỨU LÀ GÌ?

"Hỡi anh em, nếu ai nói mình có đức tin song không có việc làm, thì ích chi chăng? Đức tin có cứu người ấy được chăng? "(Gia 2:4).Bản dịch tiếng Anh bị sai, phải dịch là loại đức tin đó có cứu người ấy được chăng?

Đây không phải là vấn đề chúng ta được cứu bởi đức tin hay bởi việc làm mà là loại đức tin nào có thể cứu được. Nếu đồng ý bằng lý trí với những sự kiện trong Kinh Thánh về Đức Chúa Trời thì chưa phải là đức tin có thể cứu được.

"Ngươi tin rằng chỉ có một Đức Chúa Trời mà thôi, ngươi tin phải; ma quỷ cũng tin như vậy và run sợ "(Gia 2:19).

1. Đức Tin Được Cứu Đem Lại Hành Động Và Vâng Phục.

Giacơ cho thấy là ma quỷ cũng tin những sự kiện về Đức Chúa Trời nhưng không hề có hành động vâng phục để đáp ứng lại những gì Chúa phán. Đức tin luôn luôn có HÀNH ĐỘNG và VÂNG PHỤC.

Loại đức tin mà xưng công bình và cứu chúng ta khỏi tội lỗi là đức tin đem đến sự vâng phục bởi tình yêu đối với những điều răn của Đức Chúa Trời.

"Nhưng hỡi người vô tri kia, ngươi muốn biết chắc đức tin không có việc làm là vô ích chăng "(2:20).

Đức tin là "hành động vâng phục đối với những gì Chúa phán."

a. Minh Họa Về Đức Tin Được Cứu. Giống hoàng đế Nhật Bản, những hoàng đế La mã trong thời Tân Ước tự xưng mình là những vị chúa tể, để được tôn thờ.

Từ Hy lạp "Kurios " (dịch là Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh) được dành riêng ra bởi luật pháp Rôma. "Kurios" chỉ được sử dụng cho Ceasar. Đối với người La mã, Ceasar là Đức Chúa Trời. Nếu sử dụng từ này để chỉ bất cứ ai khác sẽ đem án tử hình đến cho người đó.

Phaolô đã viết cho các tín hữu ở Rôma (thủ đô và ngai vua Ceasar):

"Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Giêxu ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại thì ngươi sẽ được cứu, vì tin ở trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi "(Rô 10:9, 10).

Phaolô viết ra hai lẽ thật quyền năng về đức tin được cứu này:

1) Đó Là Sẽ Sống Hoặc Chết Cho Chúa Giêxu. Đức tin được cứu là loại đức tin khiến bạn sẵn sàng sống hoặc chết cho Chúa Giêxu. Khi miệng bạn xưng Chúa Giêxu ra trước mặt mọi người là đời sống bạn gặp nguy hiểm. Nếu lời này được kể lại cho giới chức La-mã thì hình phạt của bạn sẽ là bị xử tử.

2) Đó Là Vâng Phục Chúa Giêxu. Đức tin được cứu là vấn đề của tấm lòng hơn là của tâm trí. "Vả ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời " (Êph 2:8, 9).

Rô 16:26 nói đến "...sự vâng phục bởi đức tin ". Loại đức tin này không đem đến hành động vâng phục để đáp ứng với những gì Chúa phán, cũng KHÔNG phải là loại đức tin có thể cứu và xưng công bình được.

Câu hỏi thăm dò của Giacơ là "loại đức tin mà không đưa đến hành động vâng phục có được cứu hay không? Câu trả lời là tiếng KHÔNG vang dội."Vì chúng ta là việc Ngài làm ra và đã được dựng nên trong Đức Chúa Giêxu Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo " (Êph 2:10).

Ngược lại, làm việc lành, cắt bì, luật pháp hay điều răn có cứu chúng ta không? KHÔNG! Chỉ bởi ân điển và sự thương xót của Đức Chúa Trời mà chúng ta hy vọng được cứu. Bằng cách tin bởi tấm lòng (như Ápraham thuở xưa) thì đức tin của chúng ta được kể là công bình.

2. Đức Tin Được Cứu Là Sự Ban Cho Đến Từ Đức Chúa Trời.

"Ta sẽ rất vui vẻ trong Đức Giê- hô- va, linh hồn ta mừng rỡ trong Đức Chúa Trời ta; vì Ngài đã mặc áo cứu rỗi cho ta, khoác áo choàng công bình cho ta! "(Ês 61:10). Đây chính là cái áo mà Ngài tặng cho chúng ta cách nhưng không để chúng ta có thể đứng vững trước Đức Chúa Trời trong tư cách vô tội và công bình "bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời "(Êph 2:8).

Nếu không có việc làm của Đức Chúa Trời để cứu chúng ta thì"Chúng tôi hết thảy đã trở nên như vật ô uế, mọi việc công bình của chúng tôi như áo nhớp và tội ác chúng tôi như gió đùa mình đi " (Ês 64:6).

Êsai đã nói rất rõ. Bởi sức riêng và những việc làm tôn giáo chúng ta chỉ có thể đưa ra cái áo nhớp mà khi đụng vào sẽ khiến chúng ta thành ra ô uế và không xứng đáng ra mắt Chúa. "Áo nhớp" nguyên văn Hêbơrơ là áo của phụ nữ nhằm khi kinh nguyệt.

"Khi nào một người nữ có kinh nguyệt phải chịu ô uế trong bảy ngày, hễ ai đụng đến người sẽ bị ô uế đến chiều tối "(Lê 15:19).

Ghi chú của chủ bút. Sự kiện một phụ nữ như vậy có thể sờ vào Giêxu và được chữa lành cũng như được Ngài chấp nhận với lòng yêu thương nhơn từ cho thấy tính cao hơn hẳn của Giao Ước Mới trên Giao Ước Cũ (Tham khảo Lu 8:43-48 với Hêb 7:22; 8:6; 12:24).

Chúng ta tôn vinh thập tự giá của Đấng Christ và công việc Ngài đã hoàn tất để cứu chuộc chúng ta khi chúng ta không cố gắng để tự cứu lấy mình hoặc thêm bất cứ việc công bình riêng nào của chúng ta vào công việc của Ngài nữa. "Vì ai vào sự an nghỉ của Đức Chúa Trời thì nghỉ công việc mình, cũng như Đức Chúa Trời đã nghỉ công việc của Ngài vậy". (Hêb 4:10)

Trong Cựu Ước, Rutơ được dạy làm thế nào để thoát khỏi cảnh nghèo khổ và góa bụa và lấy "chủ mùa gặt" Bô ô.

"Naômi, bà gia Rutơ, nói cùng nàng rằng: Hỡi con gái ta, mẹ phải lo cho con một chỗ an thân, làm cho con được phước hạnh ".

"Vả, Bô ô vốn là bà con của chúng ta. Hãy tắm rửa, xức dầu và mặc quần áo rồi, và khi người nằm ngủ hãy để ý xem người nằm nơi nào, rồi đi dỡ mền dưới chân người mà nằm xuống, chính người sẽ nói điều gì con phải làm "(Ru 3:14).

Tất cả những gì Rutơ phải làm là chuẩn bị chính mình cho mối quan hệ rồi nằm xuống (yên nghỉ). Bô ô lo liệu mọi sự và Rutơ được cứu thoát khỏi cảnh nghèo khó, góa bụa.

Đối với chúng ta cũng vậy. Chúng ta được kêu gọi để yên nghỉ trong khi Chủ mùa gặt của chúng ta, là Chúa Giêxu, lo liệu mọi sự cứu rỗi cho chúng ta.

Hãy để Chúa Giêxu hoàn tất công việc Ngài đã bắt đầu trong bạn, hãy thôi đừng cố gắng tự cứu lấy mình bằng những việc lành của chúng ta nữa. Rồi chúng ta sẽ là Cơ Đốc Nhân sung sướng.

"Tôi tin chắc rằng Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em, sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Giêxu Christ "(Phil 1:6).

Nếu chúng ta vật lộn để tự cứu lấy chính mình, thì chúng ta sẽ thất bại, sợ hãi và bất an.

C. NẾU MỘT TÍN ĐỒ PHẠM TỘI THÌ SAO?

Có một số người dạy rằng nếu bạn phạm tội sau khi bạn tin, bạn sẽ bị hư mất cho đến khi nào bạn ăn năn và nhận được sự tha thứ.

Kinh thánh không hề ủng hộ ý kiến này. Kinh thánh nói:"Phước thay cho người nào được tha sự vi phạm mình, được khỏa lấp tội lỗi mình. Phước thay cho người nào Đức Giê-hô-va không kể gian ác cho "(Thi 32:1, 2).

Vua Đavít cũng tỏ ra cái phước hạnh của người được Chúa kể cho là công bình chẳng bởi việc làm mà rằng:

"Phước thay cho kẻ lỗi mình được tha thứ. Tội mình được che đậy. Phước thay cho người mà Chúa chẳng kể tội lỗi cho "(Rô 4:6-8).

Những câu Kinh thánh này cho thấy rằng khi chúng ta được xưng công bình, khi tội lỗi chúng ta được tha thứ, thì tội lỗi không còn bị kể trên chúng ta nữa. Tất cả tội lỗi chúng ta đều chất lên Đấng Christ và sự công bình của Ngài được ban cho chúng ta.

1. Chúa Giêxu Sẽ Bảo Vệ Chúng Ta.

Vậy thì điều gì sẽ xảy ra khi một tín đồ phạm tội? Sứ đồ Giăng dạy chúng ta: "Hỡi con cái bé mọn ta, ta viết cho các con điều này, hầu cho các con khỏi phạm tội. Nếu có ai phạm tội, thì chúng ta có Đấng cầu thay ở nơi Đức Chúa Cha là Đức Chúa Giêxu Christ, tức là Đấng Công Bình. Ấy chính Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta "(IGiăng 2:1-2).

Sứ đồ Giăng không khuyến khích chúng ta phạm tội. Ông nài khuyên chúng ta đừng phạm tội nhưng ông bảo đảm cho chúng ta rằng nếu chúng ta phạm tội thì Chúa Giêxu sẵn sàng bảo vệ chúng ta khỏi bất cứ lời kiện cáo nào của Satan. Ngài đã chịu án phạt vì tội lỗi chúng ta vì vậy sẽ không còn đoán phạt cho những kẻ ở trong Đấng Christ (Rô 8:1).

Bản dịch tiếng Anh của IGiăng 3:6-9, khiến nhiều người hiểu rằng những kẻ đã tin Chúa Giêxu sống một cuộc đời không tội lỗi.

Ý kiến này mâu thuẫn với 1:8-10 "Nếu chúng ta nói mình không có tội chi hết ấy là chính chúng ta lừa dối mình và lẽ thật không ở trong chúng ta.

Còn nếu chúng ta xưng tội mình thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác.

Nhược bằng chúng ta nói mình chẳng từng phạm tội, ấy là chúng ta cho Ngài là kẻ nói dối. Lời Ngài không ở trong chúng ta ".

3:5-9 đã được tiến sĩ Williams dịch rất chính xác trong bản Tiếng Anh. "Vả, các con biết Đức Chúa Giêxu Christ đã hiện ra để cất tội lỗi của chúng ta đi và trong Ngài không có tội lỗi. Ai ở trong Ngài thì không phạm tội, còn ai phạm tội thì chẳng từng thấy Ngài và chẳng từng biết Ngài ".

Đây không phải là một trong những vấn đề hoàn toàn thánh khiết nhưng rõ ràng là Đấng Christ đến cứu dân sự Ngài khỏi tội lỗi (Mat 1:21) và do đó, nếu ai cứ tiếp tục phạm tội hay có thói quen phạm tội thì người đó có thể không có đức tin được cứu.

2. Một Tín Đồ Thật Sẽ Không Muốn Phạm Tội.

Đây là vấn đề hiểu rõ "bản chất cũ" và "bản chất mới" của chúng ta. Bản chất cũ của chúng ta giống như con heo cứ thích lăn xuống bùn. Bản chất mới của chúng ta giống như con chiên nếu lỡ té xuống hay trợt chân xuống bùn sẽ phấn đấu cho đến cùng để thoát ra.

"Anh em phải bỏ cách ăn nết ở ngày trước thoát lối người cũ, (bản chất) và mặc lấy người mới (bản chất) tức là người đã được dựng nên giống như Đức Chúa Trời, trong sự công bình và thánh sạch của lẽ thật "(Êph 4:22-24).

Một tín đồ thật sẽ không muốn phạm tội hay lăn lóc trong vũng bùn tội lỗi. Một người có đức tin được cứu sẽ không cố ý phạm tội. Nhưng nếu người tín đồ bất ngờ phạm lỗi, chìu theo cám dỗ mà phạm tội thì Chúa ở sẵn đó để bảo vệ người tín đồ khỏi sự kiện cáo của Satan. Vấn đề chủ yếu là người tín đồ có thực sự mong muốn được thoát khỏi tội lỗi không.

3. Một Người Tin Thật Sẽ Được Đưa Vào Kỷ Luật.

Khi một đứa trẻ không vâng lời cha mẹ, mối tương giao bị gãy đổ nhưng mối quan hệ thì không. Một kỷ luật thích hợp sẽ đem đứa trẻ đến sự vâng phục và lập lại mối tương giao. Trong suốt quá trình này mối quan hệ KHÔNG bị phá vỡ. Đứa trẻ không vâng lời vẫn là đứa con của cha mẹ nó.

Tuy nhiên cần để ý rằng kỷ luật mạnh thường theo sau những tội lỗi nghiêm trọng.

"Vì Chúa sửa phạt kẻ Ngài yêu, hễ ai mà Ngài nhận làm con thì cho roi cho vọt. Ví bằng anh em chịu sửa phạt, ấy là Đức Chúa Trời đãi anh em như con "(Hêb 12:6-7).

Nếu bạn phạm tội mà không bị sửa phạt thì nên lưu tâm xem bạn có phải là người tin thật hay không?

"Nhưng nếu anh em được khỏi sự sửa phạt thì anh em là con ngoại tình chứ không phải con thật "(12:8).

a. Những Tội Lỗi Của Đavít Và Những Sự Đoán Phạt. Vua Đavít đã rơi vào tội ngoại tình khủng khiếp, theo sau là tội sát nhân man rợ (IISa 11:1-27). Những tội này đã đem một loạt đoán phạt ám ảnh Đavít suốt phần còn lại của cuộc đời ông.

1) Chiến Tranh Và Chết Chóc. Bởi vì Đavít đã giết một người vô tội (Uri) mà gươm giáo không khi nào rời nhà ông. Chiến tranh và chết chóc cứ quấy nhiễu ông cho đến khi ông qua đời.

2) Cái Chết Của Đứa Con. Đứa con của sự ngoại tình giữa ông và Bátsêba sẽ phải chết.

3) Tai Họa Trên Gia Đình Ông. Bởi vì ông đã vi phạm tính thiêng liêng trong hôn nhân của Uri, nên tai họa đã giáng xuống cũng như phát sinh ra trong gia đình ông. Những vợ và con Đavít đã phạm vào những hình thức vô đạo đức tồi tệ nhất gồm cả hiếp dâm, loạn luân và thông dâm.

4) Con Cái Tranh Chiến Lẫn Nhau. Con trai của Đavít, là Ápsalôm giết em khác mẹ với mình là Ammôn vì tội hiếp dâm em gái ruột mình là Tama.

5) Con Chống Lại Cha. Ápsalôm muốn lật đổ Đavít và trục xuất ông khỏi ngai. Để nhục mạ Đavít, Ápsalôm ăn nằm với những phi tần của cha.

6) Bị Dân Chúng Rủa Sả. Khi chạy trốn Ápsalôm, Đavít bị thần dân mình rủa sả.

7) Cái Chết Của Người Con Yêu Dấu. Cuối cùng con trai Đavít, Ápsalôm, bị một vị tướng của Đavít giết chết.

8) Một Tấm Lòng Tan Nát. Lòng Đavít nát tan khi những tai họa như vậy xảy đến cho ông và gia đình.

"Vua rất cảm thương, bèn lên cửa thành và khóc. Người vừa đi vừa nói rằng: Ôi, Ápsalôm, con trai ta. Ápsalôm con trai ta! Con trai ta! Ước chi chính ta chết thế cho con. "...nhà vua ôm mặt và khóc lớn tiếng Ôi, Ápsalôm, con trai ta "(18:33).

Đức Chúa Trời yêu thương con cái Ngài nhiều đến độ không bao giờ để họ phạm tội mà không trừng phạt. Ngài không miễn trừ chúng ta khỏi những hậu quả đau đớn của tội lỗi.

"Con đường kẻ phạm tội lấy làm khốn cực thay "(Châm 13:15b)."Chớ hề dối mình, Đức Chúa Trời không chịu khinh dễ đâu; vì ai gieo giống chi lại gặt giống ấy "(Ga 6:7).

Nhưng Ngài không kết tội chúng ta cùng với thế gian. "Sự nhân từ Ngài hằng có mãi mãi " (Thi 100:5).

b. Ba Mức Độ Phán Xét. Có 3 mức độ phán xét đối với tội lỗi của một tín đồ. Mức độ sau nghiêm trọng hơn mức độ trước.

1) Tự Xét Đoán. "Nếu chúng ta biết xét đoán lấy mình thì khỏi bị xét đoán (ICôr 11:31). Khi một tín đồ phạm tội, Thánh Linh ở ngay đó để cáo trách cách mạnh mẽ và khiến cho người ấy nhận biết mình cần sửa chữa lại lỗi lầm. Nếu đó là tội lỗi đối với người khác thì người tín đồ ấy phải xin lỗi hoặc bồi hoàn. Nếu chịu làm như vậy thì việc đó coi như xong.

2) Sự Xét Đoán Bởi Các Tín Đồ Khác. Nếu bạn không tự xét đoán lấy mình thì Chúa sẽ gởi một tín đồ khác đến với bạn như Ngài đã gởi tiên tri Nathan đến gặp Đavít. Đavít đáp ứng lại và ăn năn. Lời cầu nguyện xin được thương xót và phục hồi của ông được ghi trong Thi 51:1-19. Và khi ông chịu sự sửa phạt nghiêm trọng vì tội lỗi của mình - thì việc đó được xem là đã kết thúc.

3) Sự Xét Đoán Bởi Người Ngoại Hay Của Satan. Nếu chúng ta không đáp ứng với cách giải quyết của Chúa ở mức độ đầu tiên hay thứ nhì, thì hình thức xét đoán nghiêm trọng nhất sẽ theo sau.

"Có tin đồn ra khắp nơi rằng trong anh em có sự dâm loạn, dâm loạn đến thế dẫu người ngoại đạo cũng chẳng có giống vậy, là đến nỗi trong anh em có kẻ lấy vợ của cha mình "(ICôr 5:1).

Người Côrinhtô không xét đoán hay kỷ luật đối với tín đồ phạm tội mà không chịu ăn năn này. Phaolô chỉ cho Hội thánh Côrinhtô điều họ cần phải làm.

"Nhơn danh Chúa Giêxu là Chúa chúng ta, tuyên án kẻ phạm tội đó rằng một người như thế phải phó cho quỉ Satan để hủy hoại phần xác thịt hầu cho linh hồn được cứu trong ngày Đức Chúa Giêxu ".

Tội lỗi là một vấn đề rất nghiêm trọng đối với người tín đồ.

4. Sự Khích Lệ Đối Với Tín Đồ.

Người tín đồ không muốn phạm tội nên tìm sự khích lệ trong những lời hứa của Rôma đoạn 8.

Đã vậy thì chúng ta sẽ nói làm sao? Nếu Đức Chúa Trời vừa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta?

Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con Ấy cho chúng ta sao?

Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời? Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những kẻ ấy.

Ai sẽ lên án họ ư?Đức Chúa Giêxu là Đấng đã chết và cũng đã sống lại nữa. Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời.

Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm hay là gươm giáo chăng? (Rô 8:31-35).

Tất cả những lẽ thật tuyệt diệu này đem đến cho chúng ta một đảm bảo và một hy vọng mạnh mẽ. Có một sự an toàn tuyệt diệu trong Đấng Christ. Đức Chúa Trời ở phía chúng ta - đấu tranh cho sự cứu rỗi của chúng ta. Đấng Christ và Đức Thánh Linh tham dự vào việc cầu thay cũng như là những đại diện hợp pháp của chúng ta. Để chứng tỏ là Ngài thật sự muốn chúng ta được cứu, Đức Chúa Trời đã ban Con Một của Ngài cho chúng ta. Tất cả những điều này đem đến cho chúng ta một cảm giác an toàn và là nguồn an ủi cho chúng ta.

Đức Chúa Trời cũng vậy, muốn càng tỏ ra cho những kẻ hưởng lời hứa biết ý định Ngài là chắc chắn không thay đổi, thì dùng lời thề, hầu cho nhờ hai điều chẳng thay đổi đó - và về hai điều ấy Đức Chúa Trời chẳng có thể nói dối - mà chúng ta tìm được sự yên ủi lớn mạnh, là kẻ đã trốn đến nơi ẩn náu mà cầm lấy sự trông cậy đã đặt trước mặt chúng ta.

Chúng ta giữ điều trông cậy như cái neo của linh hồn vội vàng bền chặt thấu vào phía trong màn (Hêb 6:17-19).

D. SAU KHI ĐÃ ĐƯỢC XƯNG CÔNG BÌNH CÓ THỂ BỊ HƯ MẤT KHÔNG?

Có nhiều người vì tin vào lẽ thật được xưng công bình bởi ân điển qua đức tin nên tin vào giáo lý "an toàn đời đời". Họ dựa trên tất cả những lẽ thật được nêu trên, họ kết luận rằng họ sẽ không bao giờ bị hư mất.

Nếu ai đó muốn được gìn giữ an toàn thì tôi tin rằng người đó cũng không có nguy cơ bị hư mất. Đức Chúa Trời đã dự bị sẵn cho chúng ta rất nhiều điều để gìn giữ chúng ta được an toàn. Chúa Giêxu đã nhấn mạnh điều này. "Ta ban cho nó sự sống đời đời; nó chẳng chết mất bao giờ, và chẳng ai cướp nó khỏi tay Ta.

Cha Ta là Đấng lớn hơn hết đã cho Ta chiên đó, và chẳng ai cướp nổi chiên đó khỏi tay Cha "(Giăng 10:28, 29).

1. Những Lời Cảnh Báo Nghiêm Trọng

Nhưng chúng ta cũng có những lời cảnh báo rất nghiêm trọng trong Tân Ước mà nếu bỏ qua thì rất nguy hiểm.

Người bạn trưởng lão (mà tôi đề cập đến trong chương đầu) tin vào giáo lý an toàn đời đời. Tuy nhiên ông thừa nhận là có một số câu Kinh thánh gây cho ông bối rối. Trong đó có Rô 8:13"Nếu anh em sống theo xác thịt, thì anh em sẽ chết... ."

Từ "chết" trong bản Hylạp chính là từ ngữ dùng để mô tả kết cuộc của những người không tin mà phải chịu "cái chết thứ nhì" - chỉ sự phán xét đời đời: "Vì nếu các ngươi chẳng tin Ta là Đấng đó thì chắc sẽ chết trong tội lỗi các ngươi " (Giăng 8:24).

Một lối sống xác thịt có thể dẫn người ta vào sự lừa dối. "Nhưng hàng ngày anh em hãy khuyên bảo lẫn nhau đang khi còn gọi là "ngày nay "hầu cho trong anh em không ai bị tội lỗi dỗ dành mà cứng lòng " (Hêb 3:13). Tội lỗi và tính xác thịt làm chai cứng lương tâm và tấm lòng.

Vì sự phán xét cũng như kỷ luật của Đức Chúa Trời không được thi hành tức khắc nên những người xác thịt bị lừa phỉnh mà tin rằng không có hậu quả gì của tội lỗi. Sự vô tín bắt đầu len lỏi vào. Sự vô tín tỏ ra sự không vâng lời đối với những điều răn của Chúa."Họ xưng mình biết Đức Chúa Trời nhưng theo những việc làm thì đều từ chối Ngài "(Tít 1:16).

2. Sự Vô Tín Đưa Chúng Ta Vào Chỗ Nguy Hiểm.

Vậy thì điều gì khiến một người đã được cứu lại bị hư mất? Đó chính là sự vô tín, do tính xác thịt và tội lỗi gây ra.

"Vả, không có đức tin thì chẳng hề có thể nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời "(Hêb 11:6).Chính việc trở lại sự vô tín khiến người ta lâm vào cảnh nguy hiểm.

"Ai tin Con, thì được sự sống đời đời, ai không chịu tin Con thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó" (Giăng 3:36).

Từ "tin" có nghĩa là tin và tiếp tục tin. Trong văn phạm Hylạp, động từ này ở thì hiện tại liên tiến. Sau khi tin, người ta tiếp tục tin.

Hỡi anh em, hãy giữ lấy, kẻo ai trong anh em có lòng dữ và chẳng tin mà trái bỏ Đức Chúa Trời hằng sống chăng (Hêb 3:12). Hãy lưu ý lời cảnh báo là nói với "anh em". Điều này cho thấy đây là những người tín đồ.

"Nhưng hàng ngày anh em hãy khuyên bảo lẫn nhau đang khi còn gọi là "ngày nay "hầu cho trong anh em không ai bị tội lỗi dỗ dành mà cứng lòng.

Vì chúng ta đã được dự phần với Đấng Christ miễn là giữ lòng tin ban đầu của chúng ta vững bền cho đến cuối cùng "(Hêb 3:13, 14).

Tôi nghĩ điều này đã rất rõ ràng và giải quyết cuộc tranh cãi. Nếu chúng ta cứ giữ vững đức tin thì chúng ta an toàn. Nếu chúng ta lìa khỏi Đức Chúa Trời hằng sống bằng sự vô tín (kết quả của tội lỗi và sự không vâng phục), tôi tin rằng chúng ta đang lâm nguy.

3. Tín Đồ Có Thể Trở Thành Người Vô Tín Không?

Tôi hỏi người bạn trưởng lão câu hỏi: "Nếu anh biết một người đã tin nhưng bây giờ họ nói họ không còn tin nữa thì anh có cho rằng họ có hy vọng được cứu rỗi không?".

Ông suy nghĩ một lúc rồi trả lời cách nghiêm túc: "Tôi sẽ không bao giờ dành hy vọng cứu rỗi cho một người nói mình không tin. Tuy nhiên, tôi tin rằng không thể có chuyện một người đã thật sự tin lại quay trở lại sự vô tín để rồi bị hư mất".

Cuộc tranh cãi đưa đến điều này.

Tôi tin chuyện quay lại sự vô tín và bị hư mất là có thể xảy ra, ngay cả sau khi đã tin. Bạn tôi không tin điều này. Đây không phải vấn đề "việc làm ngược lại với đức tin" mà là vấn đề tin (mà được cứu) hay không tin (bị hư mất). Tại sao Đức Chúa Trời lại phải cảnh báo chúng ta nếu điều này không thể xảy ra?

a. Tín Đồ Hêbơrơ Thối Lui. Người ta nói rằng nhiều tín đồ Do Thái trong thế kỷ thứ nhất đã xây khỏi Đấng Christ sau khi đã tin nhận Ngài, vì có nhiều áp lực và bắt bớ chống lại các Cơ Đốc Nhân Do Thái.

Họ bị kỳ thị khi đi xin việc và đã không xin được việc làm. Họ đã bị kỳ thị trong nền giáo dục. Con cái họ không được đến trường. Đôi khi họ không được mua hàng hóa từ những cửa hàng địa phương.

Để được nhận lại vào cộng đồng Do Thái, tín đồ Cơ Đốc Hêbơrơ phải vẽ hình thập tự giá trên mặt đất, đổ huyết lên trên rồi dẫm nát dưới chân. Làm vậy chứng tỏ người ấy chối bỏ huyết và thập tự giá của Đấng Christ.

Về điều này, sách Hêbơrơ đã viết: "Vậy nên, chúng ta càng phải giữ vững lấy điều mình đã nghe, e kẻo bị trôi lạc chăng.

Vì nếu lời thiên sứ rao truyền đã vững chắc và sự trái phép nghịch mạng đã được báo ứng xứng đáng rồi, mà nếu ta còn trễ nải sự cứu rỗi dường ấy thì làm sao tránh khỏi được" (Hêb 1:3).

"Ai đã phạm luật pháp Môise, nếu có hai ba người làm chứng thì chết đi không thương xót,

Huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi huyết của giao ước tức là huyết mà mình nhờ nên thánh là ô uế; lại khinh lờn Đức Chúa Trời ban ơn, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đang bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao?" (10:28, 29).

Đây là những lời cảnh báo hết sức nghiêm trọng.

"Hỡi những kẻ rất yêu dấu, dẫu chúng ta nói vậy, vẫn còn đương trông đợi những việc tốt hơn từ nơi anh em, là những việc đưa đến sự cứu rỗi" (6:9).

"Sự cuối cùng của muôn vật đã gần; Vậy hãy khôn ngoan tỉnh thức mà cầu nguyện. Nhất là trong vòng anh em phải có lòng yêu thương sốt sắng; vì sự yêu thương che đậy vô số tội lỗi" (IPhi 7:8).