Tìm kiếm

Âm nhạc và Nhạc khí

Âm nhạc và Nhạc khí\

Tổ phụ những kẻ đánh đờn và thổi sáo là Giu-banh (Sáng thế 4:21). Tên Ma-ha-la-le, chắt của Sết, có ý nghĩa là ngợi khen Chúa. Như vậy, việc hát ngợi khen Chúa xuất hiện trước tiếng nhạc, (Sáng thế 31:27; Ê-sai 42:10-12). Có nghĩa là trong sự thờ phượng Chúa, điều quan trọng nhứt là ngợi khen Chúa bằng cả tấm lòng, thứ nhì là tiếng nhạc khí. (Xem Thi thiên 68:251 Cô-rinh-tô 14:15.)

Người Do thái từ khi tan lạc ra các nước, bỏ mất thứ âm nhạc đặc biệt vốn có của họ, song dùng âm nhạc các nước thay vào; cho nên âm nhạc mà đời sau dùng trong nhà hội của họ khác hẳn với âm nhạc ngày xưa.

Tuy nhiên, vẫn có thể dựa vào Cựu ước và những lời truyền văn của các đời để khảo cứu âm nhạc ngày xưa của người Do-thái. Ngày nay, âm nhạc phương tây đều do bốn âm hài hòa mà làm nên. Âm nhạc ngày xưa của xứ Do thái lấy đan âm làm nguyên tắc. Khi có một vua lên ngôi hoặc có đám cưới, người ta hay dùng âm nhạc để giúp vui. Ở đền thánh và nhà hội có khi có hai ban hát và nhạc hòa với nhau. Khi dân Y-sơ-ra-ên đã được Chúa vùa giúp qua Biển Đỏ, Mi-ri-am và các bạn mình có nhảy múa và hòa nhạc để tỏ lòng mừng rỡ (Xuất Ê-díp-tô 15:20). Trong các trường học của các đấng tiên tri, (1 Sa-mu-ên 10:5; 19:20; 2 Các vua 2:5-7) có lẽ cũng dạy âm nhạc để khen ngợi Chúa và giục lòng thờ phượng Ngài. Thi thiên 11; 20; 38; 68; và 89 là do một ban hát và một ban nhạc làm ra, những điệu hát đó đa số là mượn khúc hát của dân gian, ví dụ như bài hát ở Thi thiên 22 có tên gọi là "Con nai cái rạng đông", đó là tên một bài ca của dân chúng. Bài ca ở Thi thiên 57 đến 59 và Thi thiên 75 có tên gọi là "Chớ phá hủy", tức là bài ca nói về việc đừng làm hư chùm nho, (Ê-sai 65:8.). Khi Đa-vít khi thắng trận trở về, phụ nữ trong nước có ca hát để hoan hô (1 Sa-mu-ên 18:6). Về sau, vua Sa-lô-môn xây đền thánh mới, có đặt ra rõ ràng lệ ca hát và gảy âm nhạc (2 Sử ký 5:11-14). Vua Ê-xê-chia và vua Giô-si-a đều noi theo đó mà sử dụng (2 Sử ký 29:25; 35:15). Về sau, Nê-hê-mi cũng dùng lệ đàn hát đó ở đền thánh thứ hai (Nê-hê-mi 12:27). Nhạc khí thường dùng được chia ra làm ba loại:

1. Loại làm bằng dây: Cả hai thứ nhạc khí bằng tơ của Do-thái đều có thể dịch là đàn cầm, nhưng nó khác với đàn cầm của Tàu. Đàn cầm của Do-thái có hai loại lớn và nhỏ. Thứ nhỏ, người ta có thể cầm đàn bằng tay trái và gảy bằng tay phải (Sáng thế 4:21). Thứ lớn, người ta thường để trên đất, và ngồi, rồi lấy hai tay để gảy (1 Sa-mu-ên 10:5). Hai loại đàn cầm trên luôn được dùng ở đền thánh (2 Sa-mu-ên 6:5).

2. Loại dùng để thổi: Có kèn, sáo, giống kèn, sáo của Việt-nam (1 Sa-mu-ên 10:5; Gióp 21:12). Cũng có loại còi làm bằng sừng và kèn làm bằng ống tre (Các quan xét 3:27; 1 Các vua 1:34; 2 Các vua 12:13; 1 Sử ký 13:8; 15:28; 2 Sử ký 15:14; Thi thiên 98:6).

3. Loại làm bằng gỗ: có trống, bát, mã la (2 Sa-mu-ên 6:5). Có loại trống nhỏ dùng tay để vỗ (Xuất Ê-díp-tô 15:20; Các quan xét 11:34; 1 Sa-mu-ên 10:5). Cũng có một thứ nhạc khí khác lạ: xâu vài mảnh đồng tròn vào cái giá đồng, lấy tay rung cho nó kêu tiếng leng keng.

4. Loại bằng đồng: người ta dùng những chập chỏa bằng đồng để báo giờ và cho tiếng của nó vang rền (1 Sử ký 15:19 chép về Hê-man, A-sáp và Ê-than dùng nhạc khí nầy).

Trong đời tiên trISa và hai vua Đa-vít và Sa-lô-môn, thì âm nhạc được phát triển mạnh giữa người Hê-bơ-rơ. Bài hát của Đa-vít trong 1 Sử ký 16:7-36 được dùng đến luôn trong các đời của dân Y-sơ-ra-ên: lúc làm lễ Khánh thành đền thờ Sa-lô-môn (2 Sử ký 7:6); lúc cơ binh Giô-sa-phát đi đánh nhau với dân Am-môn xông vào bản xứ (2 Sử ký 20:21, 22); lúc lập đền thờ thứ nhì (Exơ 3:10, 11). Đa-vít luôn dùng âm nhạc để tôn vinh Chúa, ngược lại, trong đời tiên tri A-mốt, những người Y-sơ-ra-ên không yêu Chúa đã dùng âm nhạc để mua vui cho mình (giống như Néron kéo đàn nhị trong lúc thành La-mã bị cháy). Họ dùng tấm gương tốt của Đa-vít để biện hộ cho sự ưa thích của xác thịt mình. Vì thế, tín đồ nên cẩn thận, chỉ dùng nhạc khí và tiếng hát để tôn vinh Chúa mà thôi.