Tìm kiếm

ĐẤNG TỐI THƯỢNG LÀ AI?

Là một người quan tâm nghiên cứu các tín ngưỡng của người Việt Nam, tôi không quên được bài báo ''Diệu Pháp Mạn-đà-la Tây Tạng'' của nhà báo Việt Nam nỗi tiếng Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh đăng trên báo Bút Việt tại Dallas ngày 1 tháng 10 năm 1999.

Mở đầu bài báo,  ông Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh đã giới thiệu: ''Vì một chuyện tình cờ may mắn, tôi đã được gặp Đại sư Lạt Ma Khen Rinpoche, Viện Trưởng Sera Mey. Đại sư cùng các vị Lạt Ma đệ tử 11 người hiện đang đi thuyết pháp ở nhiều nơi trên đất Mỹ... Đại sư Khen Rinpoche tên là Sermey Khenpo Lobsang Jamyang. Chữ Rinpoche là chữ Tây Tạng chỉ người tái sinh được tìm thấy. Khen Rinpoche có nghĩa là Viện Trưởng một Viện lớn. Sera Mey là một trong hai viện chính của Đại Học Tu Viện Sera, được thành lập ở Tây Tạng năm 1421. Cho đến năm 1959 Viện Sera Mey là nơi tu học của gần 5,000 tu sĩ. Sau khi Trung Quốc chiếm Tây Tạng, các tu sĩ tạm rời về Buxa, một vùng hoang vắng ở miền Đông Ấn Độ, lúc đó chỉ còn 170 tu sĩ. Năm 1970, các tu sĩ rời về Mysore, miền Nam Ấn Độ và tái lập Sera Mey ở đây. Hiện nay Sera Mey có khoảng 1,500 tu sĩ.''

Lời giới thiệu như trên cho tôi thấy địa vị quan trọng và thẩm quyền về Phật Pháp của vị Đại sư Tây Tạng. Tiếng nói của vị Đại sư nầy có thể xem là tiếng nói của nhiều người theo Phật Giáo ngày nay. Bài báo nầy đã giúp tôi hiểu thêm được tín ngưỡng Phật Giáo cách cụ thể nhưng cũng để lại trong tôi nhiều suy nghĩ. Tôi không hiểu được sự mầu nhiệm của Diệu Pháp Mạn-đà-la Tây Tạng cũng như của triết lý Phật Giáo trong cái nhìn của nhà báo, nhưng đối với tôi ba câu hỏi và ba câu trả lời sau đây trong bài báo đã khêu gợi cho tôi mối  quan tâm tìm hiểu. Tôi muốn mời bạn cùng tôi tìm cho ra chân lý.

Thứ nhất, niềm tin của Phật Giáo Việt Nam không khác với Phật Giáo Tây Tạng.

Nhà báo hỏi: "Phật Giáo Tây Tạng có khác gì với Phật Giáo Việt Nam không?"

Đại sư lắc đầu cười nói: "Không khác (No different)".

Nhà báo: Tôi nói Phật Giáo Việt Nam đại đa số là Phật Giáo Đại Thừa. Đại sư gật đầu nói Phật Giáo Tây Tạng cũng là Đại Thừa (Mahayana)."

Thứ hai, Phật Giáo tin sự thực hữu của Đấng Tối Thượng.

Nhà báo hỏi: "Có một vị nào tối thượng trên vũ trụ không?"

Đại sư trả lời: "Có, có."

Nhà báo hỏi tiếp: "Có phải đó là Đức Phật không?"

Vị Đại sư Tây Tạng nghiêm nét mặt lắc đầu: "Không phải, không phải." Rồi người lại cười và hạ bàn tay ra hiệu: "Đức Phật còn ở dưới."

Thứ ba,  Phật Giáo tin chết không phải là hết.

Nhà báo xin phép đổi đề tài và chuyển sang câu hỏi: "Sau cái chết có sự sống hay không? (Life after death?)."

Đại sư đáp nhẹ nhàng một chữ "Reborn (Tái sinh)".

Nhà báo hỏi: "Có phải đó là Reincarnation không?"

Đại sư lắc đầu xua tay: "Không phải, không phải... Reincarnation là cho những bậc cao hơn."

Nhà báo giải thích: Reincarnation trong tiếng Anh có nghĩa là hồn tái nhập vào một cơ thể khác, còn Reborn là đầu thai sang một kiếp khác.

Nhà báo tiếp: ''Tôi hỏi gặng tại sao người ta tái sinh (reborn), mà không nhớ tiền kiếp của mình?''

Đại sư cười lớn co hai tay lại nhắm mắt, cong lưng, bắt chước bào thai nằm trong bụng mẹ, rồi nói: "Mất 9 tháng 10 ngày như vậy thì bất cứ cái gì cũng phải quên hết nữa là tiền kiếp. Đó là lúc vô tri vô giác."

Trên đây là phần trích đăng nguyên văn bài báo về Phật Giáo của nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh.

Những câu hỏi cần được trả lời thỏa đáng.

Đọc xong bài báo, mặc dầu không thoả mãn với những câu trả lời, nhưng lòng tôi cảm phục nhà báo Việt Nam cùng vị Đại sư Tây Tạng đã hết sức thẳng thắng, rõ ràng và chân thành trong câu hỏi lẫn câu trả lời. Tôi tin rằng những câu hỏi của nhà báo cũng là câu hỏi mà nhiều người đi tìm chân lý đang quan tâm. Giống như nhiều người Việt Nam khác, phải chăng người Phật Giáo tin có Đấng Tối Thượng nhưng không biết Đấng Tối Thượng là ai? Nếu Đấng Tối Thượng không phải là Đức Phật, vậy thì ai là Đấng Tối Thượng?

Dù bạn là người đang theo Phật Giáo, dù bạn đang theo hay chưa theo một tôn giáo nào khác, thiết tưởng câu hỏi, "Có Đấng Tối Thượng không?" và "Đấng Tối Thượng Là Ai?" là những câu hỏi chúng ta cần quan tâm tìm hiểu và phải tìm cho ra câu trả lời chân chính nhất.

Có hai cách để biết Đấng Tối Thượng là ai.

Nhà Thần Học Karl Barth, người Thụy Sĩ, cho rằng chỉ có hai cách để con người biết được Đấng Tối Thượng là ai. "Cách thứ nhất là bắt đầu với con người và từ đó suy luận trở lên; cách thứ hai là bắt đầu với Đấng Tối Thượng và chấp nhận sự mạc khải của Ngài tỏ bày cho chúng ta." Hầu hết các tôn giáo và triết lý trên thế giới đi theo cách thứ nhất là cố gắng suy luận từ con người trở lên, duy có Cơ-đốc Giáo là theo cách thứ hai từ trên xuống. Bạn có quyền chọn lựa một trong hai con đường bạn nhận thấy là đúng nhất.

Có Đấng Tạo Hóa không?

Trước khi tìm hiểu cho biết Đấng Tối Thượng là ai, thiết tưởng chúng ta nên bắt đầu với câu hỏi có Đấng Tạo Hóa Tối Thượng không? Lý do là vì hiện nay trên thế giới, kể cả giữa vòng người Việt Nam, một số người vẫn không tin sự thực hữu của Đấng Tạo Hóa, nhiều người không biết Đấng đó là ai, hoặc nhiều người cứ sống mà không cần biết đến sự hiện diện của Ngài.

Ít nhất có ba sự lựa chọn về Đấng Tạo Hóa.

Lựa chọn thứ nhất:

Không có Đấng Tạo Hóa nào cả!

Đây là thái độ của những người theo thuyết Vô Thần (Atheism). Người vô thần tuyên bố, "Tôi biết không có Đấng Tạo Hóa nào cả." Người vô thần thường đặt ra vô số câu hỏi tương tự như sau:

Nếu có Đấng Tối Thượng thì tại sao không ai thấy Ngài? Tại sao có những người vô tội, kể cả trẻ em, đã chết vì những thiên tai như động đất, lụt lội, hoả hoạn, bão tố, hạn hán...? Nếu có Đấng Tối Thượng thì tại sao có bệnh tật, chiến tranh, đói kém, dịch lệ ? Tại sao Ngài không chấm dứt những khổ nạn? Tại sao có người giàu người nghèo, nước giàu nước nghèo? Tại sao có bất công đầy dẫy trong xã hội loài người? Nếu có Đấng Tối Thượng thì tại sao Ngài không nhậm lời tất cả những lời cầu nguyện của chúng ta? Nếu có Ngài, tại sao mọi người không thể có cùng một niềm tin về Ngài là Đấng như thế nào? Phật Giáo tin về Ngài khác, Ấn Giáo khác, Hồi Giáo khác và Cơ-đốc Giáo tin về Ngài khác hẳn các tôn giáo kia? Nếu Ngài không thể kiểm soát được thiên tai, nhân họa như chúng ta mong muốn thì làm sao Ngài làm Đấng Tối Thượng được? Nếu có Ngài thì tại sao có những người tự xưng là vô thần chống nghịch Ngài, bắt bớ những người tin Ngài mà Ngài vẫn tiếp tục yên lặng? Tại sao Ngài không lên tiếng để thuyết phục mọi người rằng Ngài đang có mặt? Tại sao Ngài không tự xuất hiện một lần đủ cả để cất đi mọi nỗi hoài nghi, suy đoán trong lòng mọi người? Và nếu có Đức Chúa Trời thì ai đã dựng nên Ngài?

Tất cả những câu hỏi trên đây không phải là mới và không phải là không có câu trả lời. Vấn đề là người đặt câu hỏi có thật lòng tìm kiếm câu trả lời hay không mà thôi.

Giả thử bạn đang chọn thái độ nầy thì trước hết xin bạn vui lòng cùng tôi vẽ một vòng tròn lớn tiêu biểu cho toàn bộ mọi lãnh vực hiểu biết của loài người. Tiếp theo, xin bạn hãy vẽ ra một điểm trong vòng tròn đó để tiêu biểu cho mức độ hiểu biết của chính mình bạn so với toàn bộ sự hiểu biết của loài người. Bạn sẽ vẽ được một điểm nào đáng kể trong cái vòng tròn to lớn đó hay không? Riêng phần tôi, cái điểm tôi vẽ ra bên trong vòng tròn đó thật nhỏ nhoi. Tôi tin rằng dù bạn là một nhà bác học hiện đại đi nữa, cái điểm vẽ của bạn cũng sẽ rất nhỏ nhoi. Mọi người đều công nhận sự hiểu biết của con người rất giới hạn so với tất cả những gì cần phải biết, vì thế thật vô lý khi nói rằng, "Tôi biết không có Đấng Tạo Hóa nào cả." Một người nói câu đó phải là người hiểu biết tất cả mọi sự và có mặt ở khắp mọi nơi trong vũ trụ. Đó là khả năng mà chỉ có Đấng Tạo Hóa Toàn Tri, Toàn Tại mới có được mà thôi.

Bạn biết không, các giáo sĩ Tây phương rất khó để mô tả băng tuyết cho dân bản xứ vùng xích đạo nóng bức. Các giáo sĩ càng ra sức mô tả nước đá trở nên rắn chắc đến nỗi người và xe đi lại trên đó được, dân bản xứ càng cười ra. Băng tuyết nằm ở ngoài lĩnh vực hiểu biết của họ, nhưng điều nầy không có nghĩa là băng tuyết không có thực. Tương tự như vậy, một người muốn từ chối sự thực hữu của Đức Chúa Trời thì người đó phải biết hết mọi sự. Điều mĩa mai là một người phải có tầm cở bằng Đức Chúa Trời mới dám tuyên bố chắc chắn là Đức Chúa Trời không thực hữu. Thực ra, những người từ chối Đức Chúa Trời đang ra sức đè nén sự ý thức về Đức Chúa Trời mà Ngài đã ban cho họ (xem Rô-ma 1:18-21). Một người cố tình không tin có Đức Chúa Trời thì không thể dùng lý luận mà thuyết phục người đó được. Tuy nhiên, người không tin Đức Chúa Trời thực hữu cần biết rõ một vũ trụ không có Đức Chúa Trời sẽ như thế nào.

Từ trong sâu thẳm của tấm lòng, con người luôn luôn kêu gào ý nghĩa, giá trị và mục đích của cuộc sống, nhưng đây chính là những điều bị từ chối trong một vũ trụ vô thần. Khoa học cho biết vũ trụ đang nở rộng ra và cứ để cho nó diễn ra tự nhiên, thì các thiên hà sẽ rời ra xa nhau và các ngôi sao cuối cùng sẽ tàn tắt. Tất cả sẽ là một thế giới lạnh lẽo, tối tăm, và không còn sự sống.

Trên phương diện thời gian, cả loài người (không kể chi đến một đời người) sẽ chỉ là một sự hiện hữu trong chốc lát trước khi tiêu mất đi so với cõi vĩnh hằng. Tất cả những việc chúng ta làm sẽ vô nghĩa, không ai còn lại để nhớ gì cả trong đêm dài vô tận của cõi thời gian.

Hơn nữa, nếu không có Đức Chúa Trời thì chúng ta sẽ không có nền tảng nào cả cho đạo đức, cho những giá trị để đo lường đúng sai, tốt xấu. Lúc đó mọi sự đều là tương đối, không có gì tuyệt đối cả. Nếu con người chỉ là sự kết hợp ngẫu nhiên, tình cờ của vật chất trong một vũ trụ phi nhân tính thì những giá trị mà con người tôn trọng như sự hy sinh vì chính nghĩa, sự thành thật, tình huynh đệ, tình bằng hữu, tình yêu thương, sự hiếu kính, sự công bình, sự khiêm nhường, sự tha thứ, sự tử tế, lòng vị tha, lòng biết ơn, lòng trung tín, sự thánh thiện, đạo đức, tự do, hạnh phúc vân vân... đều chẳng có nghĩa lý gì hơn sự lọc lừa, ích kỷ, hận thù, thành kiến, kiêu căng, bất công, tàn nhẫn, cố chấp, phản bội, vô ơn, nô lệ và bất hạnh... Hãy thử nhớ lại xem trong lịch sử cận đại của thế giới, những nhà lãnh đạo chính trị vô thần đã làm gì và đã đem lại gì cho nhân loại? Nếu một người thực sự sống với thuyết vô thần sẽ để lại kết quả gì cho những người chung quanh?

Trong một thế giới vô thần, con người không có mục đích sống. Một thế giới không có ai sáng tạo và điều khiển sẽ loại trừ mục đích và kế hoạch, cuối cùng khuynh hướng của nó sẽ dẫn tới chỗ hư hoại, suy tàn, vô trật tự và chết chóc. Không một ai khôn ngoan lại muốn sống trong một thế giới hỗn loạn, vô mục đích như thế cả. Ai cũng sống và cư xử như là sự hiện hữu của con người đang có ý nghĩa, những giá trị là có thực, và đời người có mục đích cao cả. Tất cả những giá trị thực tế nầy đòi hỏi phải có một Đấng Tạo Hóa vô hạn, có nhân tính. Nhờ có Ngài mà con người sống có mục đích và giá trị.

Một nhà thần học Tin Lành tên là Francis Schaeffer đã gồm tóm thuyết phủ nhận sự thực hữu và sáng tạo của Đấng Tạo Hoá bằng phương trình sau đây: "Hư không + phi nhân tính + thời gian + sự tình cờ may rủi = Sự hiện hữu của muôn loài vạn vật" (Nothing + the impersonal + time + chance = Everything there is.) Bạn thấy lý thuyết phủ nhận Đấng Tạo Hoá có hợp tình hợp lý hay không?

Có người nói rằng thuyết Vô Thần thực chất là một tôn giáo xây dựng trên đức tin mù quáng, nghĩa là phải cần có đức tin cực lớn mới làm được người vô thần. Người vô thần bởi đức tin tin rằng không có Đức Chúa Trời và dù không có bất cứ bằng chứng nào họ đã tin vũ trụ không do ai dựng nên cả. Vô thần là một tôn giáo không có Đức Chúa Trời, một đức tin không có lý trí và một cuộc hành trình không có đích.

Một người Vô Thần phải tin rằng:

(1) Vật chất là vĩnh cửu.

(2) Vật chất phi sự sống đã sản sinh ra sự sống.

(3) Vật chất phi tâm trí đã tạo ra tâm trí.

(4) Vật chất phi thông minh đã tạo ra thông minh.

(5) Vật chất phi đạo đức đã tạo ra đạo đức.

(6) Vật chất phi lương tâm đã tạo ra lương tâm.

(7) Vật chất phi mục đích đã tạo ra mục đích và trật tự.

Một người Vô Thần phải làm được những việc sau đây:

(1) Chứng minh không có Đức Chúa Trời.

(2) Từ khước tất cả những bằng chứng về sự thực hữu của Đức Chúa Trời.

(3) Phủ nhận được sự thực về Đức Chúa Giê-su Christ.

(4) Loại hết những bằng chứng về sự phục sinh của Đức Chúa Giê-su Christ.

(5) Phủ nhận được sự ứng nghiệm của những lời tiên tri trong Kinh Thánh.

(6) Chứng minh được rằng Kinh Thánh là chuyện bịa đặt.

(7) Thiết lập được sự đáng tin của thuyết Vô Thần.

Từ xưa đến nay, người Vô Thần đã không làm được điều đó.

Có người ví sánh thuyết Vô Thần giống như phạm trù của cái mà các nhà luận lý gọi là "những lời tuyên bố tự phản." Thí dụ như một người Việt nói câu, "I cannot say a word of Enghish" (Tôi không thể nói một chữ tiếng Anh nào) là người đó đã nói một câu tự phản khi người đó dùng tiếng Anh để nói mình không biết một câu tiếng Anh nào cả. Hoặc câu, "Không có lẽ thật nào cả" là một câu tự phản. Nếu câu đó sai thì đó là một câu sai. Nếu câu đó đúng, thì nó cũng sai luôn, vì trong trường hợp đó không có lẽ thật nào cả, kể cả câu nói đó.

Không có người nào biết đủ để làm người Vô Thần. Chính nhà Bác học Albert Einstein có lần đã nói ông biết ít hơn một nửa của một phần trăm. Vậy câu hỏi đặt ra với người Vô Thần là, "Có thể có Đức Chúa Trời thực hữu bên ngoài sự hiểu biết của người vô thần không?" Câu trả lời là "Có thể!" Người Vô Thần không thể nói cách hợp lý là không có Đức Chúa Trời. Không có nền tảng lý luận nào cho thuyết Vô Thần. Người Vô Thần không có nền tảng nào, lý luận nào hợp lý để phủ nhận Đức Chúa Trời.

Một học giả nỗi tiếng tên là G.K. Chesterton đã có nhận xét như sau: "Khi người ta ngưng tin Đức Chúa Trời, không phải là họ không tin gì cả, nhưng là hầu như họ tin tất cả." Câu nầy thật đúng trong thế giới của người Vô Thần.

Tuy nhiên, trước khi khẳng định thái độ của mình, xin bạn hãy cùng tôi suy nghĩ đến câu nói nầy của một học giả Cơ-đốc Giáo, "Không một phủ định nào về Thiên Chúa lại có thể chạm đến Ngài được, bởi nó ở ngoài Thiên Chúa, nó là sự phủ định một ngụy thần hay một ý niệm trừu tượng về Thiên Chúa mà thôi." Đúng vậy! Có lẽ Đấng mà một số người đang phủ nhận không phải là Đấng Tạo Hóa Tối Thượng mà chúng ta cần tin tưởng và phó thác cuộc đời. Có lẽ đó là một tà thần hoặc một hình ảnh tưởng tượng chứ không phải là Chân Thần. Chúng ta có quyền tự do lựa chọn, vấn đề là chúng ta phải chọn cho đúng.

Lựa chọn thứ hai:

Có Thể có Một hay Nhiều Đấng Tạo Hóa.

Đây là chủ trương của nhóm người theo thuyết Bất Khả Tri (Agnosticism). Nhóm nầy cho rằng con người không thể nào biết có Đức Chúa Trời hay không. "I d'ont know if there is a God or not." Chúng ta cũng không thể nào biết được vũ trụ và vạn vật bắt đầu như thế nào. Ở Tây Phương có Thomas Huxley và William Spencer theo thuyết Bất Khả Tri.

Đây là chủ trương của những người Đa Thần (Polytheist). Người Đa Thần tin có nhiều Thần. Họ thường nói: "Bạn tin có một thần, tôi tin có một thần, và ở ngoài kia có rất nhiều thần." Người Ấn Độ tin tưởng ở hơn 300,000 vị thần.

Đây là chủ trương của nhóm người theo thuyết Phiếm Thần (Pantheism). Phần lớn những người theo Ấn độ Giáo tin theo thuyết nầy. Ở Tây phương có Spinoza và Goethe theo thuyết Phiếm Thần. Nhóm nầy chủ trương rằng con người tất cả là phần tử của Đức Chúa Trời. Mọi sự hiện hữu có Đức Chúa Trời trong đó. Để dễ hiểu, một người theo Phiếm Thần nhìn một cây to và nói, " Cây nầy là Đức Chúa Trời" (That tree is God).

Đây cũng là chủ trương của nhóm người theo thuyết Bán Phiếm Thần (Panentheism). Nhà thần học Paul Tillich và phong trào New Age (Thời Đại Mới) theo thuyết nầy. Một người theo thuyết Bán Phiếm Thần nhìn vào một cây to và nói, "Đức Chúa Trời ở trong cây nầy " (God is in that tree).

Đối với người Ấn Giáo việc đi tìm Thực thể Tối Thượng được biểu lộ như sau: "Tại sao bạn đi đến khu rừng để tìm kiếm Đức Chúa Trời ? Ngài sống trong tất cả, Ngài cũng sống trong bạn nữa. Giống như mùi hương ở trong một nụ hoa, hoặc một phản ảnh trong một tấm gương, Đức Chúa Trời cũng ngự trong mọi sự, vì thế hãy tìm Ngài trong tim bạn."

Mahatma Gandhi, vị lãnh tụ bất bạo động nỗi tiếng của Ấn độ cũng là người theo Ấn Giáo đã giới thiệu thế giới quan của ông như sau: "Đối với tôi Đức Chúa Trời là Chân Lý và Tình Yêu, Đức Chúa Trời là Đạo Đức và Luân Lý, Đức Chúa Trời là không sợ hãi. Đức Chúa Trời là nguồn của sự sáng và sự sống, nhưng Ngài cao cả và vượt trỗi hơn những điều nầy. Đức Chúa Trời là lương tâm. Ngài thậm chí là chủ nghĩa vô thần cho người vô thần. Ngài siêu việt hơn ngôn ngữ và lý trí. Ngài là Đức Chúa Trời có nhân tính cho những người cần sự hiện diện bản thân của Ngài... Ngài là tất cả cho mọi người."

Trong Ấn Giáo, Đức Chúa Trời không phân biệt với loài người, Đức Chúa Trời là loài người. Đức Chúa Trời là thực thể vừa bày tỏ vừa không bày tỏ, vừa vô hạn vừa hữu hạn, vừa hữu hình vừa vô hình, vừa có thời gian vừa phi thời gian, là một Thực Thể vượt trên mọi định nghĩa và phân biệt, vượt trên sự phân loại chủ quan hay khách quan của chúng ta.

Có thể nói quan niệm của Ấn Giáo về Đức Chúa Trời hoàn toàn xa lạ với Cơ-đốc Giáo và với kinh nghiệm thường nhật của mọi người.

Đối với Phật Giáo, Đức Chúa Trời cũng vượt lên trên mọi sự mô tả. Theo một Học giả về Phật Giáo, Giáo sư Christmas Humphreys, "Phật Giáo dạy về Đức Chúa Trời theo ý nghĩa về một Thực thể tối thượng, Dù Thực thể đó là gì thì Thực thể đó cũng vượt khỏi nhận thức của trí óc hữu hạn của loài người. Theo đuổi để mô tả Thực thể đó là sai đường, là bất lợi và phí thì giờ. Phật Giáo tin rằng chúng ta chẳng bao giờ có thể định nghĩa, mô tả hay thảo luận một cách hữu dụng về bản chất của Thực Thể vốn vượt quá sự hiểu biết của ý thức hữu hạn của chúng ta."

Theo tài liệu của Phật Giáo Tích Lan, "Phật Giáo là tôn giáo không bắt đầu với một Đức Chúa Trời, đưa người ta đến một chặng đường mà ở đó sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời là không cần thiết."

Đối với Phật Giáo, không có Đức Chúa Trời hay một Chúa Cưú Thế nào giúp được con người thoát khỏi nan đề của đời sống: con người phải tự cứu lấy mình. Nhưng trong thực tế người Phật Giáo đã cầu nguyện và cầu nguyện rất nhiều. Có cầu nguyện nghĩa là có nhờ cậy một quyền lực cao cả hơn sức riêng của mình. Có cầu nguyện nghĩa là thừa nhận chính mình không đủ sức tự cưú. Như vậy, hành động thực tế đã tỏ ra không phù hợp với triết lý.

Bạn thấy những triết lý nầy có hợp tình hợp lý và thực tế hay không?

Nếu chấp nhận thuyết Bất Khả Tri có nghĩa là chúng ta phủ nhận khả năng suy tư của con người, phủ nhận khả năng nhận thức sự thực đang diễn ra chung quanh chúng ta đồng thời phủ nhận luôn trách nhiệm của chúng ta. Trên thế giới có nhiều điều chúng ta không biết vì khả năng hiểu biết của con người có giới hạn, nhưng có nhiều điều chúng ta không thể nói là chúng ta không biết. Chúng ta chịu trách nhiệm trả lời về những gì chúng ta biết. "Không biết" không phải là lời biện minh được Đức Chúa Trời chấp nhận khi bạn đối diện với Ngài.

Nếu chấp nhận thuyết Phiếm Thần nghĩa là "mọi sự là Một," "mọi sự là Đức Chúa Trời," "mọi sự là hư ảo," "mọi sự là phi nhân tính" "giống như một giọt nước hòa tan vào trong đại dương," thì hậu quả sẽ ra sao? Hậu quả sẽ là phủ nhận giá trị và ý nghĩa của nhân vị, nhân phẩm, cá nhân con người. Hậu quả là con người không khác gì cỏ cây, thú vật, con người không cần chăm lo bản thân và quan tâm đến người khác nữa. Hậu quả là không ai có thể phân biệt đâu là tốt, đâu là xấu, đâu là đạo đức, đâu là vô đạo đức, đâu là thật đâu là ảo. Hậu quả là con người không còn ý chí hay sự tự do chọn lựa. Nếu xã hội loài người và các Khoa Học Gia chấp nhận thuyết Phiếm Thần thì thế giới sẽ không bao giờ tiến bộ được như ngày nay.

Nhiều người Á Đông đang tạm hài lòng với các triết lý tôn giáo do con người chủ trương bắt đầu từ lý trí con người để suy luận lên và ít khi đặt câu hỏi những triết lý đó có phải là chân lý hay không. Tôi không phủ nhận giá trị của lý trí loài người, nhưng chúng ta cũng đừng quên rằng con người hữu hạn và sự suy luận của con người có thể sai lầm. Chính sự bất an trong lòng, sự phó mặc cho may rủi cũng như sự hoang mang không có xác tín trong lòng, không biết chắc mình đang đi đâu, về đâu, cho thấy những triết lý của người đời không vững, không đáng cho ta phó thác cuộc đời. Chân lý tuyệt đối đúng chỉ có thể tìm được nơi Đấng Tạo Hóa mà thôi. Kết quả của chân lý là sự bình an, vững tâm, không còn sợ hãi. Bạn đang chọn triết lý hay chọn chân lý?

Lựa chọn thứ ba:

Có một Đấng Tạo Hóa Tối Thượng

Đây là niềm tin của những người theo thuyết Hữu Thần (Theism), và phù hợp đức tin của những người theo Cơ-đốc Giáo (Monotheism). Người hữu thần tuyên bố, "Có Đức Chúa Trời và Ngài không thinh lặng." Có nhiều bằng chứng để chúng ta tin có Đấng Tạo Hóa và Ngài đang phán dạy với chúng ta. Ngài đang muốn bắt liên lạc với chúng ta trong cuộc sống mỗi ngày.

Sau khi bay chung quanh mặt trăng với Phi thuyền Apollo 8, Phi Hành Gia Hoa Kỳ Frank Borman đã được một nhà báo phỏng vấn. Nhà báo chỉ ra rằng một Phi Hành Gia Sô-viết mới trở về từ chuyến bay trong không gian đã tuyên bố rằng ông không thấy Đức Chúa Trời hay thiên sứ nào cả trong chuyến bay. Nhà báo hỏi: "Ông có thấy Đức Chúa Trời không?" Phi Hành Gia Frank Borman đã trả lời, "Không, tôi cũng không thấy Ngài, nhưng tôi đã thấy bằng chứng của Ngài."

Vâng, có rất nhiều bằng chứng về Đức Chúa Trời trên chúng ta, quanh chúng ta và trong chúng ta, nhưng trước khi xem xét những bằng chứng, chúng ta cần đồng ý với nhau về mấy vấn đề sau đây:

Chúng ta không nên có định kiến trước về Đức Chúa Trời.

Có nhiều người đã có định kiến trước về Đức Chúa Trời thông qua nền văn hóa của quê hương, qua triết lý tôn giáo mà người đó được trưởng dưỡng, hoặc qua những sách vỡ lý thuyết người đó thu thập ở học đường hoặc nghe theo ý kiến người khác nói. Phần lớn những định kiến như thế đều có tính cách chủ quan. Điều chúng ta đang tìm kiếm là chân lý khách quan. Chúng ta phải đi theo hướng tìm kiếm khách quan nầy. Chúng ta phải xem xét những bằng chứng trước khi kết luận.

Chúng ta không thể dựa vào bằng chứng trăm phần trăm.

Khi xem xét sự lựa chọn nầy, chúng ta phải tránh những hiểu lầm liên quan đến ý nghĩa của hai chữ "bằng chứng". Loại bằng chứng nào là cần thiết và cần bao nhiêu? Một số người đòi hỏi không đúng khi yêu cầu  phải trưng ra bằng chứng Khoa học, dường như Đức Chúa Trời có thể đem ra thí nghiệm được và kiểm soát được.

Phương pháp Khoa học được thực hiện bằng những thí nghiệm lặp đi lặp lại đã giúp con người có nhiều kiến thức quí báu. Nhưng có những loại tri thức khác nằm ngoài lĩnh vực nghiên cứu và thí nghiệm của Khoa học. Chẳng hạn như tri thức về lịch sử, tri thức triết lý, tri thức đạo đức, tri thức tôn giáo và những kiến thức bản thân. Chính nhà khoa học lừng danh Albert Einstein đã từng nói: "Tôi chưa hề gặp điều gì trong Khoa học của tôi mà lại đi ngược với Tôn giáo."

Hơn nữa, những phán quyết trong toà án hầu hết đều căn cứ trên những bằng chứng lịch sử và pháp lý, chứ không phải là những bằng chứng khoa học. Khoa học chỉ hổ trợ chứ không thay thế. Trong những phiên tòa hình sự, những hội thẩm nhân dân phải được thuyết phục về việc phạm tội "không còn nghi ngờ hợp lý nào nữa" trước khi quyết định một nghi can là có tội. Rõ ràng chúng ta không thể nào đưa ra 100% bằng chứng. Nếu ở toà án hoặc trong sự quyết định của bản thân mà đòi hỏi phải có bằng chứng hoàn toàn thì không một trường hợp nào hoàn thành được cả. Vì vậy, một quyết định phải dựa trên bằng chứng vừa đủ chứ không phải dựa trên bằng chứng đầy đủ hoàn toàn.

Chúng ta phải sẵn sàng chấp nhận những bằng chứng hợp tình hợp lý.

Có một hiểm họa trong việc đòi hỏi quá nhiều bằng chứng là chỗ người ta quên đi hoặc coi thường những bằng chứng hiển nhiên đang bày ra sờ sờ trước mắt chúng ta. Sự thực hữu của Đức Chúa Trời không thể chứng minh để bắt buộc người ta phải tin. Bằng chứng có thể rõ ràng và  mạnh mẽ nhưng người nghe phải thực sự muốn đáp ứng mới được. Đây chính là chỗ dành cho đức tin, không phải để bất chấp bằng chứng nhưng để đáp ứng với bằng chứng. Tin nơi Đức Chúa Trời không phải là bước nhảy vọt vào bóng tối, nhưng là một bước đi vào ánh sáng. Trước những bằng chứng không thể chối cãi được thì tin dễ hơn là không tin.

Nhà Thần Học Millard J. Erickson đã nhận xét: "Nếu có một Đức Chúa Trời, thì nói một cách khách quan, bạn và tôi không thể làm gì để giết chết Ngài. Trái lại, nếu không có Đức Chúa Trời, thì dù cố gắng thế nào đi nữa, không một ai trong chúng ta có thể làm cho Ngài thực hữu được."

Tuy nhiên, chúng ta có rất nhiều bằng chứng để tin Đức Chúa Trời thực hữu. Chính sự thực hữu của Đức Chúa Trời giải đáp thỏa đáng những vấn nạn của bạn và tôi.

Mời bạn hãy cùng tôi xem xét một số luận chứng quan trọng về sự thực hữu của Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa.

Sự thực hữu của Đức Chúa Trời

Luận chứng về Vũ Trụ

Hãy bắt đầu bằng sự thực hữu của vật chất, của thế giới, của vạn vật đang hiện diện xung quanh chúng ta. Luận chứng về vũ trụ đặt câu hỏi, "Tại sao có vạn vật, vũ trụ?" Giả sử như chung quanh chúng ta không có gì hết cả. Nếu không có gì hết (nothingness) thì có cần phải giải thích gì hay không? Dĩ nhiên là hư không chẳng cần một lời giải thích nào cả. Nhưng rồi giả sử chỉ trong nháy mắt mọi vật xuất hiện chung quanh chúng ta. Trong giấy phút ngắn ngủi đó chúng ta buộc phải đặt câu hỏi, "Tại sao? Tại sao vạn vật hiện hữu? Tại sao có vạn vật thay vì không có gì cả? Thời gian, không gian và vật chất từ đâu mà đến?" Những câu hỏi nầy không có câu giải đáp nếu không có Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hoá đã sáng tạo nên tất cả mọi vật hiện hữu.

Điều quan trọng nữa cần ghi nhớ là nhu cầu tương quan lệ thuộc của mọi vật. Mọi vật đều tùy thuộc vào một vật khác hơn chính mình để sống. Chẳng hạn cây cối cần không khí, cỏ rau cần nước, con người cần thiên nhiên, người nầy cần người kia, quả đất cần ánh mặt trời... Không có vật gì hoàn toàn sống độc lập hoặc tự mình tồn tại. Kinh nghiệm thực tế đang xác nhận những điều quan sát và nhận xét của chúng ta.

Có một định luật trong thiên nhiên mà không cần học ai cũng đều biết đó là nếu để tự nhiên thì mọi vật sẽ cũ mòn, phân rã, dần dần hư hoại, tàn phai, mất dần năng lực. Sự kiện mọi vật tương thuộc lẫn nhau để sống và mọi vật đều có khuynh hướng tan rã dẫn chúng ta đến một vấn nạn quan trọng: Nếu mọi vật đều tương thuộc lẫn nhau thì ai là nguồn gốc của những tương thuộc nầy? Nếu mọi vật đều nương dựa trên một vật khác để sống còn thì ai làm căn bản nâng đỡ cho tất cả mọi vật đó?

Một trong những lý thuyết Khoa học về sự thành hình của vũ trụ đang được nhiều Khoa học gia chủ trương là thuyết Big Bang (Vụ Nỗ Lớn). Tuy nhiên thuyết nầy đã không giải đáp được câu hỏi căn bản của loài người. Nếu có một Vụ Nỗ Lớn xảy ra từ đầu để có vạn vật như hiện nay thì ai là người đầu tiên bấm cái ngòi nỗ ấy? Ai đã cung cấp chất liệu cho vụ nỗ ấy? Ai tiếp tục điều khiển để Vụ Nỗ Lớn không dẫn tới phá hoại?

Nếu không có ai điều khiển "Vụ Nỗ Lớn" nầy thì tại sao vũ trụ và thế giới có trật tự; tại sao các thiên thể, các hành tinh đang di chuyển với tốc độ chóng mặt trong vũ trụ bao la nhưng không va chạm nhau mà lại đi theo những quĩ đạo chính xác vô cùng. Bạn có biết những thiên thể đang di chuyển một cách chính xác còn hơn những bộ phận của một chiếc đồng hồ tốt nhất không? Chỉ cần một thí dụ cũng đủ. Quả đất chúng ta quay xung quanh mặt trời một vòng trong 365 ngày, 5 giờ, 48 phút và 46 giây. Ai đã giữ cho vũ trụ vận hành cách chính xác như thế. Có phải tình cờ chăng? Quyền lực nào đã giữ cho những định luật vật lý vẫn duy trì không thay đổi để nhờ đó vũ trụ tồn tại và loài người vẫn được sống còn. Có phải tự nhiên chăng? Xưa nay nhờ vũ trụ vận hành trật tự chính xác vô cùng mà các Khoa học gia mới khám phá, thám hiểm, dự báo, đo lường, chụp hình và tiếp tục nghiên cứu thế giới, không gian, vũ trụ một cách thành công. Hãy tưởng tượng một vụ nỗ tự nhiên không ai điều khiển sẽ lộn xộn và tàn phá đến mức nào. Chúng ta chưa nói thuyết Big Bang đúng hay sai hoặc một mai đây sẽ có một lý thuyết khoa học khác thay thế cho thuyết Big Bang, nhưng nếu công nhận thuyết Big Bang thì dĩ nhiên phải công nhận vũ trụ có khởi đầu, nghĩa là vũ trụ hữu thỉ hữu chung.

Do có định kiến không tin sự thực hữu của Đấng Tạo Hóa mà một số người cố dựa vào thuyết Tiến Hóa để thỏa mãn lý trí và trấn an lương tâm nhưng chính thuyết Tiến Hoá đã không trả lời được câu hỏi vũ trụ từ đâu mà có. Thật ra thuyết Tiến Hóa không phải là học thuyết về nguồn gốc vũ trụ. Đó chỉ là học thuyết về sự biến đổi. Thuyết Tiến Hóa cố gắng giải thích làm thể nào một tạo vật nầy biến nên một tạo vật khác. Chỉ vậy thôi. Nó không biết khởi đầu các tạo vật do đâu mà có.

Nếu một người tin rằng thế giới tự tiến hóa thành, không do Đấng Tạo Hóa nào sáng tạo thì người đó phải duy trì lập trường tin rằng sự hỗn loạn tạo ra trật tự, vô sinh tạo ra hữu sinh, vô cơ tạo ra hữu cơ, may rủi tạo ra trí thông minh, tình cờ tạo ra mục đích, phi nhân tính tạo ra các kiểu mẫu. Nói như thế chẳng khác nào thừa nhận một hậu qủa (phức tạp, sống động, thông minh, có nhân cách) lớn hơn nguyên nhân của chính nó (vô trật tự, không có sự sống, tình cờ, may rủi). Nói như thế chẳng khác nào thần thánh hóa tự nhiên tôn lên ngang hàng Đấng Tạo Hóa.

Chúng ta hãy nghe Tiến sĩ Bill Hybels dẫn giải như sau: "Chúng ta hãy tưởng tượng đến tất cả các thiên hà, các ngôi sao, tất cả các hành tinh, cả thái dương hệ trong đó có quả đất chúng ta và tất cả vũ trụ. Rồi ta hãy vẽ một vòng tròn chung quanh tất cả mọi thứ nói trên, không để sót một vật nào dù là nhỏ nhất. Bây giờ mọi sự trong vũ trụ đều nằm trong cái vòng tròn nầy. Mọi vật trong vòng tròn nầy đều tùy thuộc vào một vật khác để hiện hữu và mọi vật bên trong vòng tròn nầy đang dần dần tàn phai, già cỗi, hư hoại, suy thoái. Đây là sự kiện không ai chối cải được. Bây giờ câu hỏi quan trọng là, "Ai đã làm cho vạn vật tùy thuộc lẫn nhau để sống còn?" Và câu hỏi thứ hai, "Ai đã làm cho vạn vật suy thoái dần?" Câu trả lời hợp lý nhất cho câu hỏi nầy phải nằm ở một trong hai chỗ mà thôi. Nguyên nhân đầu tiên của mọi vật phải nằm hoặc là bên trong hoặc là bên ngoài vòng tròn nói trên. Không có một lựa chọn nào khác. Vậy sự giải thích nào là hợp lý nhất? Nguyên nhân đó không thể nằm bên trong vòng tròn, nhưng chắc chắn phải nằm bên ngoài vòng tròn. Nếu có một ai đó nằm bên ngoài vòng tròn, thì theo định nghĩa Đấng ấy phải không tùy thuộc, không do ai dựng nên, tự hiện hữu và hoàn toàn độc lập. Nói một cách khác Đấng ấy phải là vĩnh cửu, vô hạn và toàn năng. Những đặc tính đó chỉ có trong định nghĩa cổ điển về Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa Tối Thượng."

Luận chứng về Kiểu mẫu và Mục đích

Luận chứng nầy đặt ra câu hỏi, "Tại sao mọi vật đều trật tự và đa dạng? Tại sao mọi vật đều có kiểu mẫu riêng? Tại sao mọi sự trong vũ trụ từ nguyên tử nhỏ nhất cho đến thiên hà to lớn xa xôi nhất đều cho thấy bằng chứng của một bộ óc thông minh vẽ kiểu?" Càng biết rõ thế giới vật chất bao nhiêu, người ta càng chắc chắn về sự thực hữu của Đấng Tạo Hóa bấy nhiêu. Ngay cả những Khoa học gia thù nghịch với đức tin về Đấng sáng tạo cũng bối rối trước thực tế của các kiểu mẫu muôn hình vạn trạng trong thế giới và vũ trụ. Có người nói rằng không ai có thể vừa làm nhà sinh vật học mà lại vừa là người vô thần cùng một lúc.

Trải qua bao nhiêu thế hệ, người ta nhìn đến sự đa dạng và vẽ đẹp lạ lùng của vũ trụ để tin rằng đàng sau đó có một Đấng vẽ kiểu hết cả mọi vật. Trí khôn thông thường của con người cho họ biết điều đó. Ý nghĩ truyền thống nầy căn bản không thay đổi mãi cho đến thế kỷ thứ mười tám khi một số các khoa học gia bắt đầu suy luận rằng nguồn gốc sự sống có thể được giải thích bằng một quá trình tiến hóa trải qua những thời đại lâu dài. Theo lối giải thích nầy thì một thế giới đa dạng với muôn loài vạn vật, thiên hình vạn trạng đang sinh sống đã tự nhiên tiến hoá dần theo thời gian mà thành.

Lối giải thích mọi sự tự nhiên mà có rồi trở nên phức tạp dần, rồi trật tự dần và đẹp đẽ dần trong thực tế là vô lý, không hợp với lý trí bình thường. Nothing always produces nothing. Ai cũng biết hư không chỉ tạo ra hư không. Lối giải thích mọi vật tự nhiên mà có đòi hỏi một người phải có một lòng tin thật lớn vượt lên cả lý trí loài người mới có thể chấp nhận được. Hãy thử tưởng tượng một nhà máy thép tự nhiên bùng nỗ và trong quá trình đó một chiếc xe hơi sang trọng ra đời. Hoặc hãy tưởng tượng một đống sắt vụn tự nhiên lâu ngày lắp lại thành một cái đồng hồ.

Nhà Sinh vật học Trường Đại Học Princeton, Hoa Kỳ, là Giáo sư Edwin Carlson đã tuyên bố: "Việc khả dĩ của sự sống phát xuất từ sự tình cờ tự nhiên cũng giống như sự khả dĩ của một quyển từ điển xuất hiện do kết quả từ một vụ nổ xảy ra ở một nhà máy in."

Có người cũng ví sánh lối giải thích nầy giống như cho một con khỉ ngồi đánh máy và cứ để cho nó có đủ thời gian gõ lung tung, một ngày kia nó sẽ tạo nên được một tác phẩm kịch nghệ cở như một vở kịch của Shakespeare hoặc một tập thơ cở như Truyền Kiều của Thi Hào Nguyễn Du. Ai cũng hiểu rõ đó là điều không tưởng. Ai cũng phải thừa nhận một kiểu mẫu phải có người vẽ kiểu và sự trật tự phải có sự chọn lựa.

Người Việt hay nói cách nôm na về qui tắc nguyên nhân và hậu quả: "Không có lửa làm sao có khói." Người Việt xưa thường nói: "Thiên sinh vạn vật, duy nhân tối linh." "Trời sinh, Trời dưỡng," "Trăm sự nhờ Trời." Hoặc câu ca dao: "Lạy Trời mưa xuống. Lấy nước tôi uống. Lấy ruộng tôi cày. Lấy đầy bát cơm." Người Việt tin có Ông Trời là Đấng Tối Thượng.

Giả thử bạn đang ngồi trong ngôi nhà của bạn, nếu có người bước vào nhà và tuyên bố ngôi nhà nầy tự nhiên mà có, không do ai dựng nên cả, do nhiều năm tháng mà những đống gạch, những khối gỗ tự nhiên ghép lại mà thành, rồi tự nhiên bạn dọn đến ở, bạn sẽ trả lời người đó ra sao? Dĩ nhiên bạn sẽ cho đó là một người điên và không thèm trả lời hay tranh cãi làm chi. Thế nhưng trong thực tế đã có người chủ trương như thế đối với ngôi nhà chung của nhân loại là quả đất mà chúng ta đang sống.

Mời bạn hãy cùng tôi tham khảo thêm vài tài liệu dưới đây, theo đó sự sống không thể có trên quả đất nếu bất cứ việc gì sau đây đã xảy ra:

- quả đất quay chậm hơn.

- quả đất quay nhanh hơn.

- quả đất xa mặt trời 2-5%.

- quả đất gần mặt trời 2-5%.

- 1% thay đổi trong ánh sáng mặt trời chiếu vào quả đất.

- quả đất nhỏ hơn.

- quả đất lớn hơn.

- mặt trăng nhỏ hơn.

- mặt trăng lớn hơn.

- có hơn một mặt trăng.

- vỏ quả đất mỏng hơn.

- vỏ quả đất dày hơn.

- tỉ lệ oxygen/nitrogen lớn hơn.

- tỉ lệ oxygen/nitrogen nhỏ hơn.

- ozone nhiều hơn hay ít hơn.

Để hiểu rõ hơn sự kỳ diệu trong công trình sáng tạo vũ trụ của Đấng Tạo Hóa, xin mời bạn theo dõi vài con số sau đây đăng trong cuốn "Reasons For Believing" của Frank Harber:

"Khoảng cách tuyệt hảo từ mặt trời đến quả đất là 93 triệu dặm. Nhiệt độ bề mặt của mặt trời là 11,500 độ Fahrenheit và trung tâm mặt trời có nhiệt độ hơn 40 triệu độ. Nhiệt độ nầy trải qua 93 triệu dặm đến tới mặt đất để sưởi ấm địa cầu của chúng ta.Nếu chỉ cần 50 độ nóng hơn hay lạnh hơn hằng năm chạm đến địa cầu của chúng ta, thì sự sống sẽ không còn trên mặt đất.

Quả đất quay với tốc độ hơn 1,000 dặm một giờ. Nếu quả đất quay với tốc độ một phần mười chậm hơn tốc độ hiện nay, thì sự sống sẽ bị hủy diệt bởi quá nóng ban ngày và quá lạnh ban đêm. Nếu quả đất quay quá nhanh, thì những cơn gió tai biến của vũ trụ sẽ xuất hiện cuốn đi tất cả. Điều kỳ diệu là quả đất vẫn quay với một tốc độ tuyệt hảo để quân bình cả nóng và lạnh.

Bốn mươi dặm bên trên mặt đất là một tầng mỏng ozone. Bầu khí quyển nầy đã che chắn cho điạ cầu khỏi 8 tia độc hại từ mặt trời và khỏi 20 triệu thiên thạch rơi vào quả đất mỗi ngày với tốc độ 30 dặm một giây.

Mặt trăng quay xung quanh quả đất với một khoảng cách tuyệt hảo khoảng 240,000 dặm để tạo nên thủy triều cần thiết trên các đại dương. Những thủy triều nầy làm sạch các đại dương và các bãi biển. Nhưng nếu mặt trăng di chuyển gần quả đất một phần năm khoảng cách nầy, thì các lục địa sẽ ngập tràn dưới nước hai lần mỗi ngày."

Người ta không thể nghiên cưú sự kỳ diệu của vũ trụ mà không kết luận rằng có một Đấng nào đó đã vẽ kiểu và sáng tạo nên thế giới đẹp đẽ nầy. Không lạ gì khi 90 phần trăm những nhà Thiên Văn Học tin tưởng Đức Chúa Trời.

Tác giả Thi Thiên đã kinh ngạc khi nhìn lên bầu trời và tin tưởng, "Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm" (Thi thiên 19:1). Thánh Kinh cũng đã sử dụng lối lý luận nguyên nhân và hậu quả thông thường khi khẳng định rằng: "Vả, chẳng có một cái nhà nào không bởi có người dựng nên, mà Đấng dựng nên muôn vật, ấy là Đức Chúa Trời" (Hê-bơ-rơ 3:4).

Luận chứng về các Qui luật Đạo đức

Chắc chắn đây là điều gần gủi nhất bởi vì bạn và những người thân trong gia đình của bạn đang kinh nghiệm. Tại sao loài người ở khắp nơi trên thế giới đều nhận biết về một qui luật đạo đức chung? Mỗi ngày chúng ta thấy các chính trị gia, các bác sĩ, các luật sư, các nhà tâm lý học, các quan toà, các nhà xã hội học, các chủ bút, các nhân viên cảnh sát và nhân dân đang tranh cãi với nhau về công lý, công bằng, bình đẳng, khoan dung, thành thật, trách nhiệm, bổn phận, dân quyền, nhân quyền, quyền phụ nữ, v.v... Chúng ta tin rằng việc đối xử bình đẳng với mọi người là đúng. Chúng ta lên án nạn phân biệt chủng tộc, hiếp dâm, bạo động, hành hạ trẻ con, chiến tranh, tham nhũng, âm mưu, phản bội và nhiều hành vi hung ác khác. Chúng ta đang thực sự sống giữa một thế giới bị chi phối bởi những qui luật đạo đức. Những qui luật nầy từ đâu mà có?

Nếu không có Đức Chúa Trời thì không thể có những giá trị đạo đức khách quan. Nếu không có Đức Chúa Trời thì đạo đức trở thành một vấn đề thuộc sở thích bản thân. Các giá trị của bạn chỉ là ý riêng của bạn. Bạn phải tự phân biệt đúng sai không cần theo tiêu chuẩn nào. Nếu đạo đức không còn là vấn đề tuyệt đối thì bạn nghĩ sao khi một số nền văn hóa yêu thương người lân cận trong khi một số nền văn hóa khác lại ăn thịt kẻ láng giềng, bạn thích nền văn hoá nào?

Hãy thử suy nghĩ đến điều nầy. Nếu con người do tự nhiên tiến hóa thành thì làm sao giải thích được sự kiện trong hầu hết các nền văn hóa trên mặt đất, người ta đều đánh giá sự thật tốt hơn sự dối trá, tử tế tốt hơn ghen ghét, trung thành tốt hơn phản bội. Ở nền văn hóa Á Đông, ai cũng tôn trọng nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, trung, hiếu, đức hạnh. Liệu vật chất vô tri vô giác bằng một cách nào đó đã tình cờ tạo nên một hệ thống giá trị đạo đức rồi ghim sâu vào tâm trí và tấm lòng của hàng tỉ người đang sống rải rác khắp nơi trên thế giới hay không?  Đạo đức không phải là vấn đề sở thích. Một điều sai thì sai dù người ta có cho là đúng. Chẳng hạn bạn thấy việc cướp của giết người, hành hạ trẻ con, khinh bỉ người tật nguyền... ở đâu cũng đều  sai cả. Luôn luôn có sự khác nhau khách quan giữa đúng và sai. Làm sao bạn phân biệt đúng sai nếu bạn không có tiêu chuẩn nào để so sánh? Nếu có tiêu chuẩn đạo đức thì phải có Đấng lập nên tiêu chuẩn đó. Chính Đấng Tạo Hoá đã đặt tiêu chuẩn đó trong lòng mọi người, chúng ta không thể giải thích cách nào khác được. Một bằng chứng rõ ràng là lương tâm con người luôn luôn cắn rứt khi làm điều gì sai quấy. Có người nhận xét đúng khi nói về một con cọp giết người vẫn nằm ngủ ngon giấc nhưng cũng một hành động đó kẻ sát nhân không thể ngủ yên. Thánh Kinh khẳng định: "Việc nầy chứng tỏ các nguyên tắc luật pháp đã được ghi vào lòng họ, lương tâm cũng làm chứng khi lên tiếng buộc tội hay biện hộ" (Rô-ma 2:15).

Điều lạ lùng trên thế giới là có những người tự xưng theo chủ nghĩa Vô thần đang làm hội viên của những hội từ thiện, bác ái. Theo định nghĩa, một người Vô thần tin rằng loài người không phải là loài thọ tạo được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời và không có một qui luật đạo đức thiên phú nào phú bẩm trong lòng người cả. Trong khi đó chính một số người Vô thần đang lớn tiếng kêu gọi người khác vận dụng qui luật đạo đức để bảo vệ môi trường, tha nợ cho các nước nghèo và giúp đỡ những người cùng khốn. Nếu mọi người chỉ là kết quả tình cờ thì tại sao ta phải quan tâm đến sự tình cờ của người khác? Bạn thấy không, trong thực tế không ai sống đời với thuyết Vô thần mà không tự mâu thuẩn với chính mình.

Có một câu chuyện thật về một sinh viên Triết Học đã viết một luận văn lý luận rằng không có gì tuyệt đối và mọi sự đều tương đối cả. Xét về nội dung, tài liệu, cách trình bày thì bài luận văn đáng được điểm "A". Tuy nhiên, vị Giáo sư đã cho anh điểm "F" với lời ghi chú, "Tôi không thích bìa tập màu xanh!" Khi anh sinh viên nhận được điểm về bài luận văn, anh rất giận và chạy vào văn phòng giáo sư để kiện, "Thế nầy là không công bằng! Thầy chấm điểm không đúng! Thầy phải chấm điểm theo nội dung bài viết chứ không phải chấm theo màu sắc của bìa tập."

Vị Giáo sư nhìn vào mắt của anh sinh viên và hỏi, "Có phải bài nầy lý luận rằng không có những nguyên tắc đạo đức khách quan nào như công bằng, công lý và mọi sự đều là tương đối theo sở thích bản thân không?"

Anh sinh viên nhanh chóng trả lời, "Vâng! Vâng! Đó là bài luận văn của tôi!"

Vị Giáo sư nói, "Thế à, vậy tôi không thích tập bìa màu xanh. Điểm tôi cho bài nầy vẫn là "F". Bỗng nhiên anh sinh viên hiểu ra, anh tin tưởng ở sự công bằng, công lý và anh cũng mong người khác áp dụng cho anh!

Không ai tránh được những qui luật đạo đức khi sống giữa thế gian nầy.

Luận chứng về Những Kinh nghiệm Tôn giáo

Luận chứng nầy dựa trên sự kiện có hàng triệu người đáng tin, đáng kính trên thế giới đang cảm thấy sự hiện diện của Đức Chúa Trời, đang cảm nhận sự dẫn dắt của Ngài và đang kinh nghiệm sức mạnh của Ngài thêm sức cho họ trong những công việc họ làm. Chúng ta không nói đến một vài trăm hay một vài ngàn nhưng nói đến hàng triệu, hàng tỉ người, trong số đó có những nhà chính trị, những nhà tri thức, những nhà tư tưởng, những khoa học gia, những nhà xã hội, những nhà kinh tế, những sử gia, luật gia, những nhà đạo đức và đủ mọi hạng người khắp nơi trên thế giới đã và đang làm chứng cho một kinh nghiệm thực sự với Đức Chúa Trời. Tất cả đều có một tiếng nói chung về việc họ cảm thấy được Đức Chúa Trời yêu thương, chăm sóc, dẫn dắt, tha thứ và được Ngài đổi mới, ban bình an, tin yêu, hy vọng. Họ biết Ngài thực hữu vì họ đã gặp được Ngài qua Chúa Cưú Thế Giê-su. Họ là những Cơ-đốc Nhân hay những Ki-tô Hữu. Họ đang ở khắp mọi nơi chung quanh bạn.

Không lẽ cùng một lúc hàng triệu người trên thế giới cùng bị thôi miên? Không lẽ hàng tỉ người cùng đang nói dối về kinh nghiệm của mình? Không lẽ hàng tỉ người đang cùng âm mưu để gạt gẫm người ta? Bạn nghĩ sao về sự tồn tại của các tôn giáo? Phải chăng đó chính là cố gắng của con người đi tìm Đấng Tối Thượng trải qua bao nhiêu thế kỷ trong dòng lịch sử của loài người. Bạn nghĩ sao về Cơ-đốc Giáo khi Chúa Cưú Thế, Đấng sáng lập Cơ-đốc Giáo, đã tự khẳng định là con đường duy nhất dẫn loài người đến cùng Đấng Tối Thượng? Bạn biết không, Cơ-đốc Giáo là cố gắng của Đấng Tối Thượng tìm kiếm loài người.

Các tôn giáo chính trên thế giới đang tôn thờ Đấng Tối Thượng.

Tất cả các tôn giáo đều tin có sự thực hữu của Đức Chúa Trời và có sự thưởng phạt ở đời sau. Cơ-đốc Giáo, Hồi Giáo và Do Thái Giáo tin tưởng sự thực hữu của một Đức Chúa Trời Tối Thượng. Trong khi đó, Ấn-độ Giáo, Khổng Giáo và Phật Giáo tin có Đấng Tối Thượng nhưng lại có những quan niệm khác nhau về Ngài là Đấng như thế nào. Số người tự xưng là vô thần không nhiều so với dân số thế giới.

Nhiều người đang âm thầm "Thờ Chúa Không Biết"

Nhiều gia đình người Việt Nam đã lập bàn thờ "Ông Thiên" ở trước nhà để thờ Trời. Ngày xưa, mỗi năm nhà vua thay mặt nhân dân lập đàn tế Trời. Người Việt đã biết thờ Trời trước khi có Khổng Giáo, Phật Giáo và các tôn giáo khác du nhập vào nước ta. "Mỗi đêm mỗi thắp đèn Trời. Cầu cho cha mẹ sống đời với con."

Những người thờ Trời đều biết có Đức Chúa Trời Tối Thượng cần phải tôn thờ nhưng chưa biết Ngài là ai, chưa biết thờ thế nào cho đẹp lòng Ngài. Nhiều người Việt Nam chưa bắt được liên lạc với Đức Chúa Trời, chưa thiết lập được mối quan hệ phụ tử với Ngài.

Ngày xưa, trong thế kỷ thứ nhất, tại thành phố A-thên, thủ đô nước Hy-lạp, người ta theo triết lý Hy-lạp và thờ đủ thứ thần. Họ theo Triết học phái Epicurean (Hưởng Lạc) hoặc theo Triết học phái Stoic (Khắc Kỷ). Nhưng họ vẫn không yên tâm vì chưa biết Đấng Tối Thượng là ai. Vì thế họ lập một bàn thờ, "Thờ Chúa Không Biết." Đức Chúa  Trời đã không để cho người Hy-lạp tiếp tục lầm lạc nữa. Ngài đã sai sứ giả của Ngài đến với họ. Sứ đồ Phao-lô đã được Đức Chúa Trời sai phái đến thành A-thên và rao giảng:

"Vậy, Đấng các người thờ mà không biết đó, là Đấng ta đang rao truyền đây: Đức Chúa Trời đã dựng nên thế giới và mọi vật trong đó, là Chúa của trời đất... Ngài là Đấng ban sự sống, hơi sống và mọi vật cho mọi người. Ngài đã làm cho muôn dân sanh ra bởi chỉ một người, và khiến ở khắp trên mặt đất, định trước thời giờ đời người ta và giới hạn chỗ ở. Chúa đã tạo điều kiện cho con người tìm kiếm Ngài và cố gắng vươn lên để tìm gặp Ngài, dẫu Ngài chẳng ở xa mỗi một người trong chúng ta, vì tại trong Ngài chúng ta được sống, động và hiện hữu... Trước kia loài người không biết Chúa, Ngài đã rộng lòng tha thứ, nhưng bây giờ Chúa truyền cho mọi người khắp thế giới phải ăn năn thờ phượng Ngài. Vì Chúa đã chỉ định một ngày, khi Ngài sẽ lấy sự công bình đoán xét thế gian, do Người Ngài đã chọn. Đức Chúa Trời đã xác nhận uy quyền của Người khi khiến Người từ kẻ chết sống lại..." (Công vụ Sứ đồ 17:22-31).

Đấng Tối Thượng mà loài người khắp nơi đang kính thờ mà không biết chính là Đức Chúa Trời đã hiện thân giữa loài người qua thân vị Đức Chúa Giê-su.

Loài người không thể sống mà không cần Đức Chúa Trời!

Có một số người đang sống nhờ ơn Đức Chúa Trời mỗi ngày nhưng ngoài miệng thì cứ lớn tiếng như là mình không cần đến Ngài. Thật ra người nói mình không cần Chúa là người dối lòng và không thực tế.

Có một câu chuyện rất có ý nghĩa kể về một nhà vô địch quyền anh hạng nặng, đáp máy bay đến điểm hẹn thi đấu. Sự thành công nơi đấu trường làm cho nhà vô địch trở nên tự phụ tự mãn. Trong  lúc đó máy bay đang rơi vào chỗ có thời tiết thật xấu, máy bay chòng chành lên xuống. Phi công bắt đầu báo động, ông đang có ý muốn nói rằng, "Nếu bạn có niềm tin tôn giáo, thì đây là lúc bạn hãy bắt đầu bày tỏ đi." Các hành khách được nhắc nhở phải nịt giây an toàn ngay. Mọi người vâng theo nhưng nhà vô địch quyền anh kia không chịu. Để ý thấy vậy, một nữ tiếp viên đến yêu cầu anh thi hành lệnh của phi công. Nhưng anh lớn tiếng trả lời, "Siêu nhân không cần nịt giây an toàn." Cô nữ tiếp viên lập tức nói thẳng, "Vậy siêu nhân cũng không cần đi máy bay."

Bạn không thể sống mà không cần Đức Chúa Trời. Đức Chúa Giê-su phán, "Đức Chúa Trời khiến mọc trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác" (Ma-thi-ơ 5:45). Đức Chúa Trời vẫn yêu thương bạn mặc dù bạn không biết yêu thương Ngài. Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục ban ơn cho bạn mặc dầu bạn chưa biết mở miệng cảm ơn Ngài. Ngài không thể làm trái với bản tính của Ngài.

Đức Chúa Trời của Cơ-đốc Giáo

là Đấng Tối Thượng

Không một người nào chân thành tìm kiếm chân lý về Đấng Tối Thượng mà thật sự thoả lòng khi "bắt đầu với con người rồi suy luận dần lên". Như vậy con đường khôn ngoan nhất là hãy "bắt đầu với Đấng Tối Thượng và chấp nhận những gì Ngài đã mặc khải cho chúng ta."

Kinh Thánh Khẳng Định Đức Chúa Trời Thực Hữu

Kinh Thánh là Lời Hằng Sống của Đức Chúa Trời, là quyển sách duy nhất Đức Chúa Trời dùng để mặc khải cho loài người biết Ngài là ai và Ngài đã làm gì cho nhân loại chúng ta. Đức Chúa Trời đã tự bày tỏ chính mình Ngài qua lịch sử Thánh Kinh và qua Con Một của Ngài là Chúa Cưú Thế Giê-su.

Cơ-đốc Giáo tin rằng: "Đức Chúa Trời là Đấng thần linh, vô hạn, vĩnh cửu, và bất biến trong bản chất, khôn ngoan, quyền năng, thánh khiết, công chính, tốt lành và chân thật của Ngài." "God is a Spirit, infinite, eternal, and unchangeable in his being, wisdom, power, holiness, justice, goodness, and truth" (Westminster Shorter Catechism).

Kinh Thánh mô tả rõ ràng về sự thực hữu của Đức Chúa Trời và bản tánh của Ngài.

Đức Chúa Trời Tự Xưng là Đấng Tối Thượng: "Hỡi các ngươi hết thảy ở các nơi đầu cùng đất, hãy nhìn xem Ta và được cứu! Vì Ta là Đức Chúa Trời, chẳng có Chúa nào khác" (Ê-sai 45:22). "Ta là Chúa! Chẳng có Đức Chúa Trời nào tạo thành trước Ta và cũng chẳng có sau Ta nữa. Ấy chính Ta, chính Ta là Đức Giê-hô-va, ngoài Ta không có Cưú Chúa nào khác" (Ê-sai 43:10-11). "Ta là đầu tiên và cuối cùng. Ngoài Ta không có Đức Chúa Trời nào khác" (Ê-sai 44:6). Đức Chúa Trời là Đấng Tối Thượng nên không ai lớn hơn Ngài. Ngài là Đấng duy nhất đáng cho chúng ta tôn thờ.

Đức Chúa Trời là Đấng Tự Có và  Hằng Có: "Đức Chúa Trời phán rằng: Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Rồi Ngài lại phán cùng Môi-se rằng: Hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Đấng Tự Hữu đã sai ta đến cùng các ngươi." (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14). Đức Chúa Trời tự hữu nên không ai tạo nên Ngài, không ai có trước Ngài. Ngài hằng còn, hằng có mãi mãi.

Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo: "Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất" (Sáng thế 1:1). "Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời. Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài" (Giăng 1:1-3). Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hoá nên Ngài khác với các tạo vật do Ngài dựng nên. Danh xưng Ngôi Lời và Con Một Đức Chúa Trời chỉ về Chúa Cưú Thế Giê-su là Đấng Tạo Hóa

Đức Chúa Trời là Đấng Thần Linh: "Chẳng hề có ai thấy Đức Chúa Trời; chỉ có Con Một ở trong lòng Cha, là Đấng đã giải bày Cha cho chúng ta biết" (Giăng 1:18). "Đức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ phượng Ngài phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng" (Giăng 4:24). Đức Chúa Trời là Thần nên không ai có thể thấy Ngài bằng mắt thường nhưng Ngài luôn luôn thấy rõ chúng ta. Không ai được phép tạc tượng về Ngài để thờ bởi vì làm như thế là hạ thấp Ngài, không tôn vinh Ngài. Hơn nữa Đức Chúa Trời lên án việc thờ hình tượng, Ngài đặt việc thờ hình tượng thành một trong Mười Điều Răn Cấm của Ngài.

Đức Chúa Trời là Đấng Yêu Thương: "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất nhưng được sự sống đời đời." (Giăng 3:16). "Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều nầy: Đức Chúa Trời đã sai Con Một Ngài đến thế gian, để chúng ta nhờ Con được sống" (1 Giăng 4:9). Đức Chúa Trời yêu thương loài người nên Ngài đã giáng thế để "tìm và cứu kẻ bị hư mất." Kinh Thánh mô tả Đức Chúa Trời đã bước vào lịch sử của nhân loại và hiện thân thành người trong thân vị Chúa Cứu Thế Giê-su.

Đức Chúa Trời ban thưởng cho người tìm kiếm Ngài. "Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thể nào ở cho đẹp ý Ngài, vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài" (Hê-bơ-rơ 11:6). Đức Chúa Trời ban thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài nhưng Đức Chúa Trời sẽ phán xét những người chối bỏ Ngài, không chịu tìm kiếm Ngài, không chịu tôn thờ Ngài.

Kinh Thánh còn mô tả Đức Chúa Trời là Đấng biết hết mọi sự, làm được mọi sự, ở khắp mọi nơi, không bao giờ thay đổi. Ngài là Đấng yêu thương nhưng cũng là Đấng Thánh Khiết, Ngài công bình nhưng giàu lòng thương xót. Ý muốn của Ngài luôn luôn tốt lành. Sự cưú rỗi của Ngài là một Tin Mừng. Sự cứu rỗi của Ngài là một món quà. Mời bạn hãy tìm đọc, học, nghiên cưú và làm theo Kinh Thánh để kinh nghiệm thêm về Đức Chúa Trời là Đấng như thế nào và Ngài đã làm gì cho nhân loại chúng ta.

Kinh Thánh Khẳng định

Đức Chúa Trời là Đấng có Nhân Tính

Đức Chúa Trời đã được bày tỏ trong Kinh Thánh khác hẳn với các ý niệm về Ngài trong các tôn giáo khác. Trong một số tôn giáo Á Đông, kể cả Ấn-độ Giáo và Phật Giáo, Đấng Tối Thượng được quan niệm như là một lực lượng phi nhân tính, chứ không phải là "Cha chúng con ở trên trời" như Cơ-đốc Giáo tin tưởng. Ấn-độ Giáo theo thuyết Phiếm thần (Pantheism) tin rằng mọi sức mạnh và vạn vật trên vũ trụ là Đức Chúa Trời. Đá, cây, thú vật, quả đất, loài người... tất cả đều là một phần của Đức Chúa Trời. Thuyết nầy diễn tả: Vạn vật là Trời, Trời là vạn vật. Vì vậy, vấn đề tiếp theo là ta phải quyết định tin Đấng Tạo Hóa nầy là một Hữu Thể phi nhân tính hay có nhân tính. Ngài với tạo vật do Ngài dựng nên là một hay là Ngài độc lập với các tạo vật do Ngài dựng nên?

Sự trật tự của vũ trụ và vẻ đẹp của vạn vật cho thấy khi sáng tạo thế giới Đấng Tạo Hóa có kiểu mẫu trong đầu óc của Ngài giống như vị Kiến trúc sư xây dựng một công trình có bản vẽ trong tay. Chỉ cần nhìn vào sự cấu tạo và hoạt động của các bộ phận trong cơ thể con người, vô cùng phức tạp, tinh vi, nhạy cảm, không thừa không thiếu, với mục đích và công dụng rõ ràng của từng cơ quan, bộ phận cũng đủ thấy đầu óc kỳ diệu lạ lùng của Đấng Tạo Hóa là thể nào. Nhìn vũ trụ hiện hữu có trật tự, có kiểu mẫu đẹp đẽ, có mục đích hữu dụng như vậy, chúng ta phải đi đến kết luận rằng Đấng Tạo Hóa  phải có nhân tính giống như con người và cao cả hơn con người rất nhiều, chứ không thể là một lực lượng vô tri, vô giác và phi nhân tính.

Sự hiện hữu của loài người và nhân tính của loài người là một bằng chứng hùng hồn nữa không chối cải được chứng minh Đức Chúa Trời có nhân tính. Sự hiện hữu của một người bao gồm thân xác, linh hồn và ý thức sống động của người đó. Nhân tính một người bao gồm lý trí, tình cảm và ý chí của người đó. Phi nhân tính nghĩa là không có khả năng suy nghĩ, cảm xúc, hoặc lựa chọn. Người có nhân tính là người có khả năng lựa chọn và quyết định. Trong chính con người có những khả năng lạ lùng, sống động như sự suy nghĩ, óc tưởng tượng, khả năng nghệ thuật, mỹ thuật, âm nhạc, óc sáng tạo, khả năng cải thiện môi trường sống. Trong chính con người có những giá trị đạo đức mà ai cũng thừa nhận như sự thành thật, công bình, can đảm, hy sinh, tha thứ, nhân từ, đức tin, hy vọng, yêu thương... Tất cả những khả năng đó đều là khả năng thiên phú, dẫn người ta đến chỗ thừa nhận Đấng Tạo Hóa phải là Đấng Toàn Năng có thiên tính, nhân tính và hằng hữu. Loài người là sinh vật thọ tạo cao cả của Đấng Tạo Hóa được Ngài ban phú khả năng để cùng Ngài cai trị thế giới đẹp đẽ do Ngài dựng nên. Không ai liên tục sống với triết lý loại bỏ ý nghĩa, giá trị và mục đích của cuộc sống. Khát vọng sống có mục đích là nhu cầu thiêng liêng của con người chắc chắn phải phát xuất từ Đấng Tạo Hoá Thiêng Liêng. Kinh Thánh cho biết loài người có những khả năng thiên phú khác hơn muôn loài vạn vật là vì loài người đang mang hình ảnh của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là Đấng có nhân tính nghĩa là Ngài yêu thương bạn và có một chương trình tốt đẹp cho đời sống bạn. Ngài vui mừng khi bạn trở về với Ngài và làm điều đẹp lòng Ngài. Ngài sẽ buồn lòng khi bạn xây lưng lại với Ngài và tiếp tục đi theo ý riêng của bạn. Bạn có muốn khám phá chương trình kỳ diệu Chúa dành cho bạn không?

Thánh Augustine of Hippo đã phát hiện ra rằng: "Ngài là Đấng dựng nên chúng con cho chính mình Ngài và tâm hồn chúng con không thể nào yên nghỉ cho đến khi chúng con được yên nghỉ trong Ngài." (You have made us for Yourself and our heart are restless until they rest in You.)

Theo lời mặc khải của Đức Chúa Trời, các tạo vật do Chúa dựng nên đều có dấu ấn sáng tạo của Đức Chúa Trời. Loài người được Đức Chúa Trời dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời. Tuy nhiên các tạo vật không phải là Đức Chúa Trời cũng như cái nhà không phải là chủ nhà. Đức Chúa Trời dựng nên loài người nên con người không phải là Đức Chúa Trời. Những hình tượng do con người tạc nên không phải là Đức Chúa Trời. Hình ảnh "Thượng Đế" trong các chuyện cổ của người Trung Hoa không phải là Đức Chúa Trời chân thật. Hình ảnh các thần trong thần thoại Hy-lạp không phải là Đức Chúa Trời chân thật. Hình ảnh Đức Chúa Trời Chân Thần phải do Ngài mặc khải chứ không thể do trí óc con người tưởng tượng. Đức Chúa Trời hoàn toàn độc lập với thế giới tạo vật do Ngài dựng nên. Nếu tin Đức Chúa Trời và vạn vật là một có nghĩa là tin Đức Chúa Trời vừa là Đấng Sáng Tạo vừa là vật thọ tạo, vừa là thiện vừa là ác, vừa xấu vừa tốt, vừa hữu hình vừa vô hình, vừa hữu hạn vừa vô hạn, vừa thay đổi vừa bất biến, vừa vô tri vừa tri giác, vừa công bình vừa bất công... Cơ-đốc Giáo không chấp nhận thuyết Phiếm Thần. "God Is God And I Am Not." Lý trí bình thường của con người không thể chấp nhận ý niệm nầy. Thuyết Phiếm Thần là một triết thuyết tôn giáo chứ không phải là chân lý. Chân lý chỉ có ở trong Đức Chúa Trời và Lời Hằng Sống của Ngài.

Kinh Thánh Khẳng định Chúa Giê-su

là Hiện thân của Đấng Tối Thượng

Đức Chúa Trời Tạo Hóa cũng là Đức Chúa Trời Cưú Rỗi chúng ta. Ngài đã hoạch định chương trình cứu rỗi nhân loại qua công lao thực hiện sự cưú rỗi của Con Một Ngài là Đức Chúa Giê-su. Bằng chứng hùng hồn nhất chứng minh Đức Chúa Trời thực hữu và có nhân tính là Đức Chúa Giê-su. Đức Chúa Giê-su là hiện thân của Đấng Tối Thượng.

Đức Chúa Giê-su là Đấng duy nhất tự xưng là Con Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời mang thân xác con người, ngang hàng với Đức Chúa Trời, vô tội như Đức Chúa Trời, có quyền tha tội, có quyền ban sự sống đời đời, đáng được nhân loại tôn thờ.  Bằng chứng hùng hồn nhất chứng minh cho lời tuyên bố của Đức Chúa Giê-su là cuộc đời, lời nói, việc làm, những phép lạ, những bài giảng, sự chết và sự phục sanh của chính mình Ngài. So với tất cả những giáo chủ các tôn giáo khác, chỉ có một mình Đức Chúa Giê-su dám tuyên bố và hành động như một Đức Chúa Trời ở giữa loài người.

Kinh Thánh khẳng định: "Không ai nhìn thấy Đức Chúa Trời ngoại trừ Chúa Cưú Thế là Con Một của Đức Chúa Trời. Chúa Cưú Thế  sống trong lòng Đức Chúa Trời và xuống đời dạy cho loài người biết về Đức Chúa Trời" (Giăng 1:18). Kinh Thánh mời gọi: "Hãy tin Chúa Giê-su thì ngươi và cả nhà ngươi đều được cưú rỗi" (Công Vụ Sứ Đồ 16:31). Kinh Thánh xác tín: "Chẳng có sự cưú rỗi trong một Đấng nào khác, vì ở dưới trời, chẳng có Danh nào khác ban cho loài người để chúng ta nhờ đó mà được cưú" (Công vụ Sứ đồ 4:12). Chúa Giê-su phán quả quyết: "Ta là đường đi, chân lý và sự sống. Chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha" (Giăng 14:6). Cuộc đời và ảnh hưởng của Chúa Giê-su xác nhận hoàn toàn Ngài là hiện thân của Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Trời Tạo Hóa cũng là Đức Chúa Trời Phán Xét chúng ta.  Kinh Thánh khẳng định sẽ có một ngày tất cả những người không tin Đức Chúa Trời thực hữu, những người không tin Đức Chúa Trời là Đấng đã được mặc khải trong Kinh Thánh và trong Chúa Cưú Thế Giê-su đều sẽ bị ứng hầu trước Tòa Án Lớn Và Trắng của Đức Chúa Trời. Đây là Tòa Án Chung Thẩm và Đức Chúa Trời ngồi ghế Chánh Án.

"Tôi thấy những người đã chết, cả lớn và nhỏ đều đứng trước ngai. Các cuốn sách đều mở ra, kể cả Sách Sự Sống. Người chết được xét xử tùy theo công việc thiện ác họ làm mà các sách đó đã ghi. Sự Chết và Âm Phủ cũng giao nộp người chết chúng giam cầm. Mỗi người bị xét xử tùy theo công việc mình đã làm. Sự Chết và Âm Phủ bị quăng xuống Hồ Lửa. Vào Hồ Lửa là chết lần thứ hai. Người nào không có tên trong Sách Sự Sống đều bị ném xuống Hồ Lửa" (Khải huyền 20:11-15).

Bạn thân mến.  Đây là lời cảnh cáo nghiêm trọng, bạn không nên coi thường. Cơ hội để được thoát khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời đang ở trong tầm tay bạn.  Chúa Giê-su tuyên bố: "Ai tin Ngài thì chẳng bị đoán xét đâu; ai không tin thì đã bị đoán xét rồi, vì không tin đến Danh Con Một Đức Chúa Trời" (Giăng 3:18).

Cách duy nhất để khỏi bị Đức Chúa Trời phán xét là tin cậy Danh Con Một Đức Chúa Trời là  Đức Chúa Giê-su.


BẠN CẦN MỘT LỰA CHỌN HỢP TÌNH, HỢP LÝ

Những luận chứng trên đây có thể không thay đổi quyết định có sẵn của những người cố tình phủ nhận sự thực hữu của Đức Chúa Trời nhưng nó sẽ giúp cho những người thật lòng không biết Đức Chúa Trời thực hữu hay không, có cơ hội nhận thấy được sự hợp tình, hợp lý của đức tin nơi sự thực hữu của Đức Chúa Trời. Chúng tôi không trông mong bất cứ ai tin tưởng sự thực hữu của Đức Chúa Trời khi chỉ dựa vào lý trí và kinh nghiệm tôn giáo của người khác mà thôi, nhưng hãy thử bao gồm hết tất cả các luận chứng nói trên cùng một lúc, hãy lấy công tâm mà suy nghĩ, tôi hy vọng rằng bạn sẽ được thuyết phục để tin rằng vũ trụ có một Đấng sáng tạo, thế giới có người vẽ kiểu, các qui luật đạo đức phải có tác giả. Đấng Tạo Hóa đó chúng tôi xưng là Đức Chúa Trời Tự Hữu Hằng Hữu và chúng tôi tin Ngài là Đấng Tối Thượng. Chúng tôi đang yêu mến, cảm tạ và tôn thờ Ngài.

Giả sử một Bác sĩ bảo cho bạn biết rằng bạn đang mắc phải chứng bịnh hiểm nghèo. Bạn có may mắn "50-50" để sống nếu bạn đồng ý cho Bác sĩ giải phẩu. Sự lựa chọn tùy ở bạn. Dĩ nhiên là bạn chọn biện pháp giải phẩu bởi vì biện pháp nầy chắc chắn là tốt hơn không làm gì cả.

Vấn đề chọn lựa tin tưởng và tôn thờ Đức Chúa Trời còn quan trọng hơn rất nhiều. Sự chọn lựa nầy quyết định số phận của bạn trong đời nầy và cả đời sau. Kinh Thánh quả quyết: "Theo như đã định cho loài người phải chết một lần rồi chịu phán xét" (Hê-bơ-rơ 9:27). Chết không phải là hết. Người Việt thường quan niệm chết là về "Chầu Trời." Dù muốn hay không  sau khi chết, mỗi người chúng ta đều phải ứng hầu trước mặt Chúa và phải trả lời với Ngài. Kinh Thánh khẳng định: "Bởi vì chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước tòa án Đấng Christ, hầu cho mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt" (2Cô-rinh-tô 5:10). Bạn không cần phải chịu phán xét khi về chầu Trời. Bởi vì Kinh Thánh khẳng định: "Hiện nay chẳng còn có sự định tội nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Giê-su" (Rô-ma 8:1). Bạn chỉ cần được ở trong Đức Chúa Giê-su.

Bạn nên dành ít thì giờ để cân nhắc và so sánh hậu quả thiệt hơn giữa hai thái độ tin Chúa và không tin Chúa.

Nếu bạn không tin có Đức Chúa Trời và trong thực tế không có Đức Chúa Trời nào cả thì trong đời nầy bạn được gì? Bạn sẽ được tự do muốn làm gì thì làm miễn là không phải vào tù vì những hành vi phạm pháp mà thôi, phải không? Còn gì nữa? Bạn sẽ sống mà không còn bị bất cứ những qui luật đạo đức nào ràng buộc. Bạn chỉ được những điều tạm bợ trần gian. Bạn đến trên đời nầy rồi bạn sẽ ra đi khỏi đời nầy trong sự hư không, không để lại gì và không đem gì theo trong cõi vĩnh hằng.

Nhưng nếu bạn không tin có Đức Chúa Trời và thực tế Đức Chúa Trời có thật, thì bạn sẽ được gì và bạn sẽ mất gì? Bạn không được gì cả và bạn sẽ mất tất cả. Cái mất to lớn nhất là mất ý nghĩa, mất mục đích, mất bình an tâm linh trong cuộc sống hiện tại và cuối cùng sẽ là mất linh hồn.

Ngược lại nếu bạn tin có Đức Chúa Trời và thực tế Ngài thực hữu đúng như Kinh Thánh mặc khải, thì bạn có được tất cả. Bạn có được sự bình an, hy vọng, thương yêu, sự sống có ý nghĩa và sự sống vĩnh cửu. Bạn có Đức Chúa Trời là Cha, bạn không phải là đứa trẻ mồ côi. Đây chính là lý luận khởi xướng từ nhà Toán Học và Vật Lý Học người Pháp Blaise Pascal trong thế kỷ 17.

Mong bạn hãy nghĩ kỹ đến sự so sánh nầy. Nếu bạn không tin thờ Chúa, bạn không được gì cả và bạn sẽ mất tất cả. Nếu bạn tin cậy Đức Chúa Trời, bạn chẳng những không mất gì cả mà có được tất cả. Chúa Giê-su có lần đã cảnh cáo: "Một người nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn thì có ích gì? Người ấy sẽ lấy chi mà đổi lại linh hồn mình?" (Ma-thi-ơ 16:26). Bạn thấy không, quyết định nầy quan trọng hơn là bạn tưởng rất nhiều, có phải không?

Bạn cần quyết định ngay hôm nay

Bạn không nên chần chờ. Thái độ "Ngày Mai Hãy Tính" là mánh khóe của Ma quỉ để lừa dối bạn. Bạn không cần hiểu hết mới tin. Bạn không cần thấy hết mới tin. Bạn đang có đủ mọi dữ kiện và kinh nghiệm để tin. Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta đang vận dụng đức tin để đi xe hơi, đi máy bay, đi tàu lửa, đi học, đi chợ, đi làm... chúng ta đang vận dụng đức tin để ăn, để uống, để ngủ, để yêu... Bạn không cần hiểu hết mới thực hành những sinh hoạt đó.

Một phi hành gia người Nga sau khi bay lên không trung lần đầu trở về đã tuyên bố: "Tôi không thấy Đức Chúa Trời ở trên ấy". Một Mục sư người Mỹ đã bình luận: "Nếu cởi bộ áo phi hành bước ra khỏi phi thuyền, ông ấy sẽ thấy Đức Chúa Trời ngay."

Bạn có nghe câu chuyện hai người kia đang bàn về tôn giáo không?

Một người nói: -"Tôi không hiểu thì tôi không tin."

Người bạn hỏi: -"Anh đã ăn điểm tâm sáng nay chưa?"

-"Tôi ăn rồi, nhưng việc ăn uống dính dáng gì đến vấn đề tôn giáo?"

Người bạn hỏi tiếp: -"Anh có ăn bơ với bánh mì không?"

-"Có chứ!"

Người bạn tiếp: -"Vâng, vậy anh cho tôi biết làm thể nào một con bò màu đen pha đốm trắng ăn toàn cỏ xanh rồi sản xuất ra sữa trắng và từ sữa trắng người ta làm được bơ màu vàng không?"

-"Tôi không trả lời được!"

-"Vậy thì từ nay anh đừng ăn bơ uống sữa nữa!"

Bạn cần một Lựa chọn Đúng

Bạn cần có ngay một quyết định đức tin về Đấng Tối Thượng như Thánh Kinh đã bày tỏ. Bạn quyết định tiếp tục phủ nhận Ngài, hoặc là bạn quyết định tôn thờ Ngài. Đức Chúa Trời có thật và thái độ chần chờ, phân vân, thờ ơ, không quyết định của bạn là hành động thiếu khôn ngoan. Bạn không thể đứng trung dung. Bạn không quyết định gì cả về Chúa cũng có nghĩa bạn đang khước từ Ngài.

Hậu quả của một quyết định càng nghiêm trọng thì tính cách của quyết định đó càng quan trọng. Trong đời sống hằng ngày, bạn quyết định uống ly nước Coca Cola hay là uống ly nước Pepsy, thì hậu quả không khác nhau bao nhiêu. Nhưng nếu bạn vô tình uống một ly nước có thuốc độc mà bạn tưởng là một ly nước thường, thì hậu quả sẽ khác nhau rất nhiều. Người tin Chúa và người không tin Chúa có số phận rất khác nhau. Đó là sự khác nhau giữa bình an và bất an, giữa sống và chết, sự khác nhau giữa Thiên đàng và Địa ngục. Bạn phải có một quyết định khôn ngoan, sáng suốt nhất.

Bây giờ bạn chọn quyết định tin có Đức Chúa Trời, bạn tin đúng. Nhưng điều đó vẫn chưa đủ. Bạn hãy bỏ ngay thái độ, "Lạy Chúa con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên cao..." Bạn tin có Chúa như thế bạn vẫn còn ở bên ngoài Chúa, bạn chưa phải là con trong gia đình của Ngài. Bạn chưa được cưú rỗi. Đức Chúa Giê-su có lần cảnh cáo: "Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha Ta trên trời mà thôi" (Ma-thi-ơ 7:21).

Bạn phải vâng theo lời dạy bảo và chỉ dẫn cụ thể của Ngài trong Kinh Thánh. Bạn phải ăn năn tội lỗi nghĩa là bạn phải quay bỏ khỏi ý riêng để hoàn toàn vâng theo ý Chúa. Bạn phải tin cậy lòng tốt của Chúa hoàn toàn. Bạn phải nhờ cậy Con Một của Ngài là Đức Chúa Giê-su là Đấng đã chịu chết thay đền tội cho bạn. Bạn phải thiết lập mối quan hệ với Ngài như người con đi hoang, trôi giạt xa nhà nay tỉnh ngộ và quyết định đứng dậy trở về nhà Cha. Đừng tự thị tự mãn, hãy hạ mình trước sự hiện diện của Chúa. Đừng cậy sức riêng nữa, hãy nhờ cậy Chúa. Hãy nhận lãnh món quà quí báu Chúa ban. Hãy chấp nhận điều kiện của Chúa, đừng đặt điều kiện của mình. Hãy quay về nhà Cha, đừng chạy trốn nữa. Bạn không thể trốn khỏi sự hiện diện của Chúa, bạn không thể trốn khỏi sự phán xét của Chúa, bạn cũng không thể kháng cự ân điển của Chúa và chắc chắn bạn không thể yên tâm khi nói "Không" với Ngài.

Nếu bạn thật lòng tìm kiếm Đức Chúa Trời và muốn biết Ngài là ai, tôi đề nghị bạn hãy thật lòng kêu cầu Chúa bằng tiếng nói riêng của bạn hoặc bằng mấy lời tương tự sau đây:

"Kính lạy Đức Chúa Trời. Nếu Ngài thực hữu và Chúa Giê-su là Con Một của Ngài như Kinh Thánh khẳng định, xin hãy làm ơn giúp con thấy rõ bằng chứng để con có thể tin Ngài và theo Ngài suốt đời con. Muốn thật hết lòng."

Đức Chúa Trời biết rõ lòng bạn và Ngài nghe rõ những tiếng lòng của bạn. Bạn hãy tìm đọc Thánh Kinh. Bạn hãy đặt câu hỏi cho các Mục sư hoặc những người tin Chúa.

Khi Chúa Giê-su còn ở thế gian nầy, có một người tên là Giăng Báp-tít nhận nhiệm vụ giới thiệu Đấng Cưú Thế cho thế gian. Ông đã bị Vua Do Thái đương thời bắt bỏ tù vì đã dám ngăn Vua phạm tội. Ở trong tù bị xiềng xích khổ sở, ông bỗng thấy hoài nghi. Ông sai môn đồ đến hỏi Chúa Giê-su: "Ngài có phải là Đấng Cưú Thế phải đến hay chúng tôi phải đợi Đấng khác?" Chúa Giê-su không trả lời ngay rằng phải hay không. Ngài phán: "Hãy về thuật lại cho Giăng những điều các ngươi đương thấy và nghe: kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, kẻ phung được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết được sống lại và Tin Lành được giảng cho kẻ nghèo" (Lu-ca 7:22). Chúa Giê-su đã đưa ra những bằng chứng cụ thể để ông Giăng tự mình rút ra kết luận và ông Giăng đã chịu thuyết phục trước những bằng chứng. Tưởng cũng nên biết rằng những việc lạ lùng Chúa Giê-su đã làm trước mắt dân chúng đã ứng nghiệm những lời Tiên Tri nói về Đấng Cưú Thế trong Kinh Thánh Cựu Ước mà ông Giăng đã biết rõ.

Chúa Giê-su đã giới thiệu những bằng chứng vừa đủ cho những người sẵn lòng tin và muốn tin. Ngài cho mọi người quyền tự do quyết định. Chúa Giê-su luôn luôn đáp ứng những người chân thành muốn biết và tin chân lý. Ngài chính là đường đi, chân lý, và sự sống. Ngài là Đấng duy nhất mà bạn và tôi đang cần.

Bạn có quyền xem xét những bằng chứng tai nghe mắt thấy. Bạn hãy áp dụng nguyên tắc "Xem Trái Biết Cây." Hãy thử so sánh các triết lý tôn giáo đã có ảnh hưởng như thế nào đến những dân tộc, và những người đi theo các triết lý tôn giáo đó. Hành động của một người thường là kết quả của những điều người đó tin. Hãy so sánh kết quả của các tôn giáo Á Đông ở Á Châu và kết quả của Cơ-đốc Giáo ở các nước Âu Mỹ cũng như khắp nơi trên thế giới, bạn sẽ thấy ngay. Chúa Giê-su đã tuyên bố: "Các ngươi sẽ biết lẽ thật và lẽ thật sẽ giải phóng các ngươi." Tôi tin chắc Lời Chúa phán là chân lý. Lời Chúa sẽ giải phóng bạn thoát khỏi cảnh tối tăm, nô lệ, bất hạnh và dẫn bạn đến chỗ sáng láng, tự do, hạnh phúc khi bạn quyết tâm tin tưởng và vâng theo Lời Chúa.

Bạn cần một tâm hồn khiêm nhường như con trẻ

"Lúc đó Đức Chúa Giê-su nói rằng: Hỡi Cha là Chúa của Trời đất, tôi khen ngợi Cha, vì Cha đã giấu những điều nầy với kẻ khôn ngoan, người sáng dạ, mà tỏ ra cho những con trẻ hay. Thưa Cha, phải, thật như vậy, vì Cha đã thấy điều đó là tốt lành..." Đức Chúa Giê-su kêu gọi: "Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường, nên hãy gánh lấy ách của Ta và học theo Ta, thì linh hồn các ngươi được yên nghỉ. Vì ách Ta dễ chịu và gánh Ta nhẹ nhàng" (Ma-thi-ơ 11:25-30).

Có người nói rằng: "Nếu tôn giáo của bạn không thay đổi được bạn thì bạn nên thay đổi tôn giáo của bạn." Bạn có đồng ý không?

"Vì ai kêu cầu Danh Chúa thì được cứu" (Rô-ma 10:13).

Nếu bây giờ bạn đã chịu thuyết phục để tin Chúa Giê-su là Con Một Đức Chúa Trời là Đấng yêu thương bạn, chịu chết thay tội lỗi của bạn để nhờ Ngài bạn thiết lập mối quan hệ phụ tử với Đức Chúa Trời, hưởng được sự tha tội, sự bình an và sự sống đời đời, xin mời bạn hãy thành kính nguyện cầu cùng Chúa mấy lời chân thành gợi ý sau đây:

"Kính lạy Chúa Cưú Thế Giê-su. Con tin cậy Ngài là con đường duy nhất đưa con đến cùng Đức Chúa Trời. Con cảm tạ Ngài đã tha tội cho con và nhận con làm con cái Chúa. Xin ngự vào lòng con và  biến đổi con trở nên con người Chúa muốn suốt đời con. Con cầu nguyện trong Danh Chúa Giê-su. Muốn thật hết lòng."

Chúc mừng bạn quyết định tôn thờ Đấng Tối Thượng hôm nay. Đường theo Chúa còn dài, mong bạn tiếp tục cuộc hành trình dẫn vào nguồn sống.

Mục Sư Nguyễn Văn Huệ

(Tổng Hợp)

This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.