Tìm kiếm

SỬ KÝ HỘI THÁNH

Kinh Thánh chứa truyện tích Đấng Christ

Hội Thánh tồn tại để thuật lại truyện tích Đấng Christ

Sử ký Hội Thánh là phần tiếp tục Sử ký Kinh Thánh

 

 Để bày tỏ mối liên quan của chúng ta với truyện tích Kinh Thánh, và vì tin rằng tín đồ Đấng Christ ít ra cũng phải thông thạo những thực sự căn bản của Sử ký Hội Thánh, nên đây, chúng tôi xin trình bày sơ lược các đặc điểm, biến cố và nhân vật chánh yếu trong Sử ký Hội Thánh. Nếu không nhờ ánh sáng của Sử ký, thì không thể nào hiểu tình hình hiện tại của đạo Đấng Christ. Số người không biết Sử ký Hội Thánh còn nhiều hơn số người không biết Kinh Thánh. Một bổn phận chánh yếu của các vị Mục sư, Truyền đạo là phải dạy cho giáo hữu biết các thực sự của Sử ký Hội Thánh.

Sử ký thế giới thường được chia làm ba thời kỳ:

Thượng Cổ       : Ai-cập, A-si-ri, Ba-by-lôn, Ba-tư, Hy-lạp, La-mã.

Trung Cổ         : Từ lúc đế quốc La-mã suy vong tới lúc tìm ra Mỹ châu.

Hiện Kim          : Từ thế kỷ thứ 15 tới ngày nay.

Sử ký Hội Thánh thường được chia làm ba thời kỳ:

Thời kỳ đế quốc La-mã: Thời kỳ của các cơn bắt bớ, các Thánh tuận đạo, các Giáo phụ Hội Thánh, các cuộc tranh luận, và Cơ đốc hóa đế quốc La-mã.

Thời kỳ Trung cổ: Thời kỳ của chế độ Giáo hoàng phát triển và cầm quyền, Giáo hội Pháp đình, chế độ tu viện, Hồi giáo và Thập tự quân viễn chinh.

Thời kỳ hiện kim: Thời kỳ của cuộc Cải chánh Tin Lành, Hội Thánh Tin Lành phát triển mạnh mẽ, Kinh Thánh mở ra và được lưu hành rộng rãi, các chánh phủ càng ngày càng được tự do, thoát khỏi sự kiểm soát của Giáo hội và phẩm chức Giáo hội, các Hội Truyền giáo khắp thế gian, cuộc cải cách xã hội, và tình bác ái gia tăng.

Các biến cố trọng đại của kỷ nguyên đạo Đấng Christ là:

1.-- Cơ đốc hóa đế quốc La-mã.

2.-- Cuộc xâm lăng của các dân dã man, hòa trộn hai nền văn minh La-mã và Đức.

3.-- Cuộc tranh đấu chống Hồi giáo.

4.-- Chế độ Giáo hoàng dấy lên và cầm quyền.

5.-- Cuộc Cải chánh Tin Lành.

6.-- Phong trào truyền giáo khắp thế giới hiện nay.

Ba nhánh lớn của đạo Đấng Christ là:

Tin Lành, thạnh nhứt ở Tây Âu và Bắc Mỹ.

Thiên Chúa Giáo La Mã, thạnh nhứt ở Nam Âu và Nam Mỹ.

Thiên Chúa Giáo Hy Lạp, thạnh nhứt ở Đông Âu và Đông Nam Âu.

Tình trạng trên đây là kết quả do hai cuộc phân chia lớn của Hội Thánh: Một cuộc phân chia xảy ra nhằm thế kỷ thứ 9, khi Đông phương tách khỏi Tây phương vì Giáo hoàng cố quyết rằng mình là Chúa của cả Hội Thánh. Còn cuộc phân chia thứ hai xảy ra nhằm thế kỷ thứ 16, vì cùng một lý do, dưới sự lãnh đạo của Martin Luther, là bậc đệ nhất vĩ nhân của lịch sử hiện kim.

Harnack nói rằng: "Giáo hội Hy-lạp là đạo Đấng Christ nguyên thủy pha trộn với ngẫu tượng giáo (Paganisme) của Hy-lạp và của Đông phương, Giáo hội La-mã là đạo Đấng Christ nguyên thủy pha trộn với ngẫu tượng giáo của Hy-lạp và của La-mã." Hội Thánh Tin-Lành là công cuộc cố gắng khôi phục đạo Đấng Christ nguyên thủy, cho thoát khỏi mọi hình thức ngẫu tượng giáo.

 

Đế Quốc La Mã

Hội Thánh được thành lập trong đế quốc La-mã

Đế quốc La-mã thành lập.................................................................................. 753 T.C.                               

Bắt phục Ý-đại-lợi.................................................................................... 343-272 T.C.

Bắt phục xứ Carthage............................................................................... 264-146 T.C.

Bắt phục Hy-lạp và Tiểu-Á-tế-á............................................................... 215-146 T.C.

Bắt phục Tây-ban-nha, xứ Gaule, nước Anh và dân Teutons..................... 133-31 T.C.

46 T.C. đến 180 S.C.-- Tuyệt điểm vinh quang của đế quốc La-mã. Bờ cõi chạy từ Đại tây dương đến sông Ơ-phơ-rát, và từ Bắc hải đến sa mạc Phi-châu. Dân số chừng 120 triệu.

12 Vị Sê Sa (Hoàng Đế)

Jules César (46-44 T.C.). Chúa tể của thế giới La-mã.

Auguste (31 T.C.- 14 S.C.). Đấng Christ giáng sanh đương thời trị vì của ông nầy.

Tibère (12-37 S.C.). Đấng Christ bị đóng đinh vào Thập tự giá đương thời trị vì của ông nầy.

Caligula (37-41 S.C.).

Claude (41-54 S.C.).

Néron (54-68 S.C). Bắt bớ tín đồ Đấng Christ. Hành quyết Phao-lô.

Galba (68-69 S.C.).

OthonVitellius (69 S.C.).

Vespasien (69-79 S.C.). Hủy phá Giê-ru-sa-lem.

Titus (79-81).

Domitien (81-96). Bắt bớ tín đồ Đấng Christ. Đày Sứ đồ Giăng.

Năm Hoàng Đế Tốt

Nerva (96-98 S.C.).

Trajan (98-117 S.C.). Một trong những hoàng đế tốt nhứt, nhưng bắt bớ tín đồ Đấng Christ.

Hadrien (117-138 S.C.) Bắt bớ tín đồ Đấng Christ.

Antonin le Pieux (138-161 S.C.). Hoàng đế cao thượng hơn hết, thực hiện hoàng kim thời đại của vinh quang La-mã, nhưng bắt bớ tín đồ Đấng Christ.

Marc-Aurèle (161-180 S.C.). Bắt bớ tín đồ Đấng Christ.

180-476 S.C.-- Đế Quốc La Mã Suy Yếu Và Sụp Đổ

192-284 S.C.-- "Các hoàng đế trại lính" do quân đội đề cử. Đây là một thời kỳ nội chiến và tai nạn nội bộ lan rộng.

Septime-Sévère (193-211 S.C.) Bắt bớ tín đồ Đấng Christ.

Caracalla (211-217). Khoan dung đạo Đấng Christ.

Elagabalus (218-222). Khoan dung đạo Đấng Christ.

Alexandre-Sévère (222-235). Ủng hộ đạo Đấng Christ.

Maximien (235-238). Bắt bớ tín đồ Đấng Christ.

Philippe (244-249). Rất ủng hộ đạo Đấng Christ.

Decius (249-251). Bắt bớ tín đồ Đấng Christ dữ dội.

Valérien (353-260). Bắt bớ tín đồ Đấng Christ.

Galiénus (260-268). Ủng hộ tín đồ Đấng Christ.

Aurélien (270-275). Bắt bớ tín đồ Đấng Christ.

Dioclétien (284-305). Bắt bớ tín đồ Đấng Christ dữ dội.

Constantin (306-337). Trở lại tin theo Đấng Christ.

Julien bội đạo (361-363). Tìm cách khôi phục ngẫu tượng giáo.

Jovien (363-364). Tái lập đạo Đấng Christ.

Théodose (378-395). Lập đạo Đấng Christ làm quốc giáo.

Đế Quốc Chia Hai (395)

Tây đế quốc

Honorius (395-423)                  

Valentinien II (423-455)           

Tây đế quốc sụp đổ năm 476, vì tay của các dân dã man, mở đầu cho Hắc ám Thời đại

Đông đế quốc

Arcadius (395-408)

Théodose II (408-450)

Anastase (491-518)

Justin (527-565)

Đông đế quốc sụp đổ năm 1453.

Từ đống hoang tàn của Tây đế quốc, đế quốc của Giáo hoàng đã dấy lên, và La-mã còn cai trị thế giới 1000 năm nữa.

Sử Ký Hội Thánh 2

Cơ Đốc Hóa Đế Quốc La Mã và Ngẫu Tượng Hóa Hội Thánh

Đạo Đấng Christ lan tràn mau lẹ.-- Tertullien (160-220) viết rằng: "Chúng tôi mới có hôm qua, nhưng chúng ta đã đầy dẫy đế quốc, đô thị, thị trấn, hải đảo, bộ lạc, trại quân, lâu đài, cung điện, hội nghị, và thượng nghị viện của vua." Vào khoảng cuối những cuộc bắt bớ do tay các hoàng đế (313), tín đồ Đấng Christ chiếm chừng một nửa dân số đế quốc La-mã.

Constantin trở lại tin Chúa.-- Đang khi giao chiến với các địch thủ để lập vững ngôi hoàng đế của mình, nhằm buổi chiều trận đánh tại cầu Milvins, ở ngay ngoài thành La-mã (27-10-312), ông thấy trên trời, bên trên mặt trời đang lặn, hình Thập tự giá hiện ra, và bên trên Thập tự giá có mấy chữ: "Hãy thắng, bởi dấu hiệu nầy," ông bèn nhứt định chiến đấu dưới cờ Đấng Christ, và đã thắng trận. Đó là chỗ rẽ của lịch sử đạo Đấng Christ.

Chiếu chỉ khoan dung tôn giáo (313).-- Bởi chiếu chỉ nầy, Costantin ban cho "tín đồ Đấng Christ và mọi người khác được hoàn toàn tự do theo tôn giáo mà mỗi người lựa chọn." Đó là chiếu chỉ khoan dung tôn giáo đầu tiên trong lịch sử. Ông còn đi xa hơn nữa; ông ủng hộ tín đồ Đấng Christ đủ mọi cách; cho tín đồ vào làm các công sở quan trọng rất đông đúc; miễn cho các Mục sư khỏi phải đóng thuế và thi hành quân dịch; khuyến khích và giúp đỡ xây cất nhiều nhà thờ; lập đạo Đấng Christ làm tôn giáo của triều đình; công bố bản khuyến cáo hết thảy thần dân hãy theo đạo Đấng Christ (325). Vì giới quí tộc La-mã vẫn cố quyết theo ngẫu tượng giáo, Costantin bèn dời thủ đô qua Byzance, đổi tên nó ra Constantinople. Đó là "La-mã mới," thủ đô của đế quốc mới theo đạo Đấng Christ.

Constantin và Kinh Thánh.-- Ông truyền lịnh sao cho các chi hội ở Constantinople 50 quyển Kinh Thánh, dưới sự điều khiển của Eusèbe, trên giấy da bò non tốt nhứt, và do tay những ký lục tài khéo; ông dành hai xe ngựa của chánh phủ để chở Kinh Thánh mau chóng về cho hoàng đế. Rất có thể bản thảo Sinaitique và bản thảo Vatican thuộc trong số Kinh Thánh nầy.

Constantin và Chúa nhật.-- Ông biệt riêng ngày hội họp của tín đồ Đấng Christ, tức là Chúa nhật, làm ngày yên nghỉ; trong ngày ấy, ông cấm làm công việc thương, và cho phép binh sĩ theo đạo Đấng Christ đi dự các cuộc thờ phượng trong nhà thờ. Sự nghỉ một ngày trong tuần lễ đó rất có ích cho những người làm tôi mọi.

Đạo Đấng Christ trở thành quốc giáo của đế quốc La-mã. Dầu về nguyên tắc, Constantin đã làm như vậy, nhưng dưới đời trị vì của Théodose (378-395), đạo Đấng Christ mới trở thành quốc giáo, ai nấy bắt buộc phải gia nhập Hội Thánh. Đó là Tai Họa Tệ Hại Hơn Hết từng giáng trên Hội Thánh Đấng Christ vốn đã quyết định chinh phục bởi những phương pháp hoàn toàn thiêng liêng và đạo đức. Cho tới thời Constantin, ai nấy tự ý trở lại tin theo Đấng Christ, tấm lòng và đời sống của họ thật được thay đổi. Nhưng tới đây, sự bắt buộc trở lại đạo đã làm cho các nhà thờ đầy dẫy những người không được tái sanh. Hội Thánh thay đổi tánh chất, trở thành một tổ chức chánh trị, và đâm nhào vào thời kỳ 1000 năm của chế độ Giáo hoàng.

Các cuộc cải cách.-- Chế độ tôi mọi, những cuộc giác đấu,(1) sự giết các con trẻ sơ sinh mà cha mẹ không hoan nghinh, sự gia hình đong đinh vào thập tự giá, đều bị bãi bỏ khi đế quốc được Cơ-đốc-hóa.

Các nhà thờ.-- Nhà thờ thứ nhứt đã được xây dựng dưới đời trị vì của AlexandreSévère (222-235). Sau khi Constantin ra chiếu chỉ khoan dung tôn giáo, các nhà thờ được xây cất khắp nơi.

Sự suy vong của ngẫu tượng giáo.-- Khi Théodose (378-395) lấy Hội Thánh làm một cơ quan quốc gia, thì ông định ý dùng võ lực thủ tiêu mọi tôn giáo khác; ông cấm thờ lạy hình tượng. Do các sắc lịnh của ông (375-400), các miễu thờ thần tượng bị tín đồ Đấng Christ lũ lượt kéo đến phá hủy, và máu đổ rất nhiều. Lúc nầy, Hội Thánh đã bước vào giai đoạn bội đạo hệ trọng. Hội Thánh đã chinh phục đế quốc La-mã, nhưng thật ra đế quốc La-mã đã chinh phục Hội Thánh, chẳng phải bởi thủ tiêu Hội Thánh, song bởi làm cho Hội Thánh giống như hình ảnh của nó.

Hội Thánh của đế quốc ở thế kỷ thứ 4 và thứ 5 đã trở thành một cơ quan khác hẳn Hội Thánh bị bắt bớ ở 3 thế kỷ đầu. Vì có dục vọng cầm quyền, nên Hội Thánh đã bỏ mất và lãng quên tinh thần của Đấng Christ.

Sự thờ phượng lúc đầu rất giản dị, đã biến thành những nghi lễ tinh vi, trang nghiêm, long trọng, có tất cả sự huy hoàng bề ngoài vốn thuộc về các miễu thờ thần tượng.

Các Mục sư trở thành thầy cả (thầy tế lễ). Danh từ "thầy cả" không áp dụng cho các Mục sư đạo Đấng Christ trước năm 200 S.C.. Người ta mượn danh từ nầy của đạo Do-thái và vì theo gương các tế sư của ngẫu tượng giáo. Giáo hoàng Léon cấm thầy cả không được cưới vợ, và sự độc thân của thầy cả đã trở thành luật pháp của Giáo hội La-mã. Nhưng sự độc thân nầy đã gây nên tai hại trải qua mọi thế kỷ.

Các dân tộc dã man trở lại đạo.-- Các dân GothsVandalesHuns đã lật đổ đế quốc La-mã và tiếp nhận đạo Đấng Christ. Nhưng sự trở lại đạo nầy phần lớn là hữu danh vô thực, do đó Hội Thánh lại càng tràn nhập những thói tục của ngẫu tượng giáo.

Tranh đấu với các triết lý ngoại đạo.-- Mỗi thế hệ tìm cách giải thích Đấng Christ theo ý tưởng riêng của mình thể nào, thì cũng một thể ấy, vừa mới xuất hiện, đạo Đấng Christ đã bắt đầu pha trộn với những triết lý Hy-lạp và Đông phương. Nhơn đó có nhiều giáo phái dấy lên:--

Duy tri chủ nghĩa (gnosticisme): Vật chất là hư xấu; Đức Chúa Jêsus chỉ là một ảo ảnh; sự cứu rỗi do sự soi sáng thần bí trong tâm hồn.

Nhị nguyên giáo (manichéisme): Thiện ác nhị nguyên chủ nghĩa của Ba-tư.

Giáo lý của Montanus (montanisme): Chức vị siêu nhiên liên tục của Đức Thánh Linh.

Duy nhất thân vị luận: Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh là cùng một Thân vị.

Phản tam vị nhất thần luận (arianisme): không nhận giáo lý Ba Ngôi hiệp một Đức Chúa Trời (Trinité).

Cơ đốc vô nhân tánh luận: Chối rằng Đấng Christ không có nhân tánh.

Cảnh giáo (nestorianisme): Trong Đức Chúa Jêsus Christ có hai Thân vị.

Nhị tánh hợp nhứt luận (entychianisme): Đức Chúa Jêsus Christ có thần tánh và nhân tánh hiệp lại làm một.

Duy nhất tánh luận (monophysisme): Đấng Christ chỉ có một bổn thể.

Từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 6, Hội Thánh bị xâu xé bởi những cuộc tranh luận về mấy lý thuyết và chủ nghĩa đó cùng mấy lý thuyết và chủ nghĩa giống như vậy, đến nỗi hầu như không còn thấy sứ mạng chân chánh của mình nữa.

* * *

Sử Ký Hội Thánh 3

Những Cơn Bắt Bớ

Néron.-- Năm 64 S.C., tại kinh thành La-mã có xảy ra một nạn cháy lớn. Nhân dân nghi ngờ hoàng đế Néron đã gây nên nạn đó. Để tránh cho người ta khỏi nghi ngờ mình, hắn bèn tố cáo tín đồ Đấng Christ là thủ phạm và ra lịnh trừng phạt họ. Hàng bao nhiêu ngàn tín đồ, trong số đó có Phao-lô và có lẽ cả Phi-e-rơ, đã bị giết bằng những cách tàn bạo hơn hết. Tacite chép rằng: "Vậy, để chấm dứt lời đồn đại, Néron bèn đổ tội cho những người khả ố vì có thói tục đáng hổ thẹn, mà thường dân gọi là tín đồ Đấng Christ. Néron trừng phạt họ bằng những cực hình tinh tế. Đấng Christ, Giáo chủ của những người đó, đã bị quan Thống đốc Bôn-xơ-Phi-lát gia hình, dưới đời trị vì của hoàng đế Tibère. Sự mê tín chí tử đó đã bị đàn áp một thời gian, song lại bộc phát, chẳng những ở xứ Giu-đê, là nơi phát xuất tệ đoan đó, song cả ở thành phố (La-mã) nữa. Từ bốn phía, mọi sự gớm ghiếc hoặc nhơ nhuốc vẫn cùng nhau tràn vào thành phố (La-mã) đó và thạnh hành."

Domitien (96 S.C.).-- Domitien phát động sự bắt bớ tín đồ Đấng Christ và tố cáo họ là vô thần, có lẽ vì họ không chịu thờ lạy hoàng đế. Cơn bắt bớ nầy ngắn ngủi nhưng dữ dội cực điểm. Hàng bao nhiêu ngàn tín đồ bị giết ở kinh thành La-mã và xứ Ý-đại-lợi, trong số đó có FlaviusClemens, là em họ của hoàng đế; còn vợ của Clémens, là Flavia Domitilla, thì bị lưu đày. Sứ đồ Giăng bị đày ra đảo Bát-mô.

Trajan (98-117 S.C.).-- Ông là một hoàng đế tốt nhứt, nhưng cảm thấy mình phải duy trì luật pháp của đế quốc; đạo Đấng Christ bị coi là một tôn giáo bất hợp pháp, vì tín đồ Đấng Christ không chịu dâng tế lễ cho các thần La-mã, hoặc dự vào cuộc thờ lạy hoàng đế. Hội Thánh bị coi là một hội kín bị cấm. Tín đồ Đấng Christ không bị ruồng bắt, nhưng khi có ai tố cáo, thì bị trừng phạt. Trong số những người tuận đạo dưới đời trị vì của Trajan, có Si-mê-ôn, em trai Đức Chúa Jêsus. Giám mục thành Giê-ru-sa-lem, bị đóng đinh vào thập tự giá năm 107 S.C.. và Ignace II, Giám mục thành An-ti-ốt, bị giải về kinh thành La-mã và bị quăng cho thú dữ cắn xé năm 110 S.C.. Hoàng đế cử Pline tới miền Tiểu-Á-tế- á, là nơi tín đồ Đấng Christ đông đúc quá đến nỗi các miễu thờ tà thần hầu như bị bỏ vắng. Pline đem ra hình phạt những ai không chịu rủa sả Đấng Christ và dâng tế lễ cho tượng ảnh của hoàng đế. Pline gởi phúc trình tới hoàng đế Trajan như sau: "Họ quả quyết rằng tất cả trọng tội hoặc sự sai lạc của mình là: Họ quen nhóm họp vào một ngày nhất định trước khi trời sáng, thay phiên nhau hát thánh ca ngợi khen Đấng Christ như một Vị Thần, rồi họ tuyên thệ không bao giờ phạm tội ác, trộm cắp, hoặc tà dâm, không bao giờ bội lời hứa, không bao giờ bội tín, dầu bị bắt buộc. Sau những hành động ấy, họ chia tay, rồi lại tụ họp để ăn uống thanh đạm."

Hadrien (117-138) bắt bớ tín đồ Đấng Christ, nhưng có chừng mực. Télesphore, Mục sư chi hội La-mã, và nhiều người khác đã tuận đạo. Tuy nhiên, dưới đời trị vì nầy, đạo Đấng Christ tấn bộ rõ rệt về số giáo hữu, tiền của, học vấn, và ảnh hưởng xã hội.

Antonin le Pieux (138-161).-- Hoàng đế nầy hơi ủng hộ tín đồ Đấng Christ, nhưng cảm thấy mình phải duy trì luật pháp; vậy, nhiều người đã tuận đạo, trong số ấy có Polycarpe.

Marc-Aurèle (161-180).-- Cũng như Hadrien, ông coi sự duy trì quốc giáo là một nhu cầu chính trị; nhưng khác với Hadrien, ông đã khuyến khích sự bắt bớ tín đồ Đấng Christ. Cơn bắt bớ nầy tàn bạo, dã man, và kịch liệt nhứt kể từ thời Néron. Bao nhiêu ngàn người bị chém đầu, hoặc bị quăng cho thú dữ cắn xé, trong số ấy có Justin Martyr. Cơn bắt bớ rất hung dữ ở miền Nam xứ Gaule. Người tuận đạo đã chịu gia hình mà không nao núng, đến nỗi ta hầu như không thể tin là có như vậy. Một người nữ tôi mọi, tên là Blandine, chịu gia hình từ sáng đến đêm, nhưng chỉ nói rằng: "Tôi là tín đồ Đấng Christ; giữa vòng chúng tôi, không có làm một điều chi phi pháp."

Septime-Sévère (193-211).-- Cơn bắt bớ nầy rất ác liệt, nhưng không phải là toàn thể. Ai-cập và Bắc-phi chịu bắt bớ nặng nề nhứt. Tại thành A-léc-xăn-đơ-ri, "hằng ngày có nhiều thánh tuận đạo bị thiêu đốt, đóng đinh vào thập tự giá, hoặc chặt đầu," trong số ấy có Léonidas, cha của Origène. Tại thành Carthage, bà Perpétue, một bậc quí tộc, và người nữ tôi mọi trung tín, là Félicité, đã bị thú dữ xâu xé.

Maximien (235-238).-- Dưới đời trị vì của ông nầy, nhiều thủ lãnh quan trọng trong đạo Đấng Christ đã bị giết chết. Origène thoát nạn vì ẩn trốn.

Decius (249-251) cương quyết tiêu diệt đạo Đấng Christ. Cơn bắt bớ nầy lan rộng khắp đế quốc; hắn làm cho vô số tín đồ bỏ mạng vì những gia hình tàn ác hơn hết tại La-mã, Bắc phi, Ai-cập, Tiểu-Á-tế-á. Cyprien nói rằng: "Cả thế giới bị tàn phá."

Valérien (252-260).-- Tàn ác hơn Decius; hắn nhắm mục đích hoàn toàn tiêu diệt đạo Đấng Christ. Nhiều thủ lãnh bị xử tử, trong số đó có Cyprien, Giám mục thành Carthage.

Dioclétien (238-305).-- Đây là cơn bắt bớ cuối cùng của đế quốc La-mã, và cũng ác liệt hơn hết. Cơn bắt bớ nầy lan rộng khắp đế quốc. Suốt 10 năm, các tín đồ bị săn bắt trong hang đá và trong rừng rậm; họ bị thiêu đốt; bị quăng cho thú dữ, bị xử tử bằng đủ cách gia hình mà kẻ tàn bạo có thể nghĩ ra. Đây là một sự cố gắng quyết liệt và có phương pháp để loại trừ Danh Đấng Christ.

Các Hầm Mộ Ở Kinh Thành La Mã

Đây là những hành lang lớn ở dưới mặt đất, thường rộng từ 2 thước rưỡi đến 3 thước rưỡi, và cao từ 1 thước 30 đến 2 thước. Đương thời các hoàng đế bắt bớ đạo Đấng Christ, tín đồ dùng những hầm mộ nầy làm nơi ẩn tránh, thờ phượng và an táng người chết. Người ta tính phỏng có từ 2 triệu đến 7 triệu phần mộ của tín đồ. Đã tìm thấy hơn 4 ngàn bi văn thuộc về thời gian giữa Tibère và Constantin.

Những Người Vô Tín Đương Thời

Hội Thánh Đầu Tiên

Celse (180 S.C.), là văn sĩ nổi tiếng nhứt đương thời Hội Thánh đầu tiên, chống lại đạo Đấng Christ. Ta có thể tìm thấy trong các tác phẩm của ông tất cả luận điệu người ta đưa ra từ đó đến nay để chống lại đạo Đấng Christ. Nhiều ý tưởng mà ngày nay người ta khoe khoang là "kim thời," thì thật ra đã có từ đời CelsePorphyre (233-300 S.C.) cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ chống lại đạo Đấng Christ.

* * *

Sử Ký Hội Thánh 4

Các Giáo Phụ Hội Thánh

Polycarpe (69-156).-- Môn đệ của Sứ đồ Giăng, làm Giám mục thành Si-miệc-nơ. Đương cơn bắt bớ do hoàng đế gây nên, ông bị bắt và giải đến trước mặt quan Thống đốc. Họ bảo ông rủa sả Đấng Christ, thì sẽ được tự do, nhưng ông đáp: "Tôi hầu việc Đấng Christ 86 năm nay, và Ngài chỉ ban ơn cho tôi, chớ không hề giáng họa. Ngài là Chúa và Cứu Chúa của tôi, thì tôi rủa sả Ngài sao được?" Ông bị thiêu sống.

Ignace (67-110 S.C.).-- Môn đệ của Giăng, Giám mục thành An-ti-ốt. Khi ghé thăm thành An-ti-ốt, hoàng đế Trajan truyền lịnh bắt Ignace. Chính hoàng đế ngồi làm chánh án, và tuyên án quăng ông cho thú dữ cắn xé tại thành La-mã. Trên đường đi La-mã, ông viết một thơ cho tín đồ La-mã và xin họ chớ thử xin cho ông được ân xá, vì ông rất mong mỏi được vinh dự chết vì Chúa. Ông nói: "Nguyện bầy thú dữ hung hăng xông vào tôi! Nếu chúng không chịu xông vào, tôi sẽ bắt buộc chúng. Hỡi bầy thú dữ, hãy đến! Hỡi sự cắn rứt, xâu xé, nhai xương và cào cấu chơn tay, hãy đến! Hỡi những khổ hình tàn bạo của ma quỉ, hãy đến! Duy hãy để cho ta tới nơi Đấng Christ!" Ông rất vui mừng mà tuận đạo!

Papias (khoảng 70-155 S.C.).-- Một môn đệ khác của Giăng, làm Giám mục thành Hiérapolis, cách thành Ê-phê-sô chừng 100 dặm về phía Đông. Có lẽ ông quen biết Phi-líp, vì theo truyền thoại, thì Phi-líp qua đời tại thành Hiérapolis. Ông viết một sách, nhan đề là: "Giải thích các bài giảng của Chúa," trong đó ông nói rằng ông nhứt định đòi các trưởng lão cho bằng được chính những lời phán của Đức Chúa Jêsus. Ông tuận đạo tại thành Bẹt-găm, gần cùng một lúc với PolycarpePolycarpeIgnace và Papias là cái vòng xích nối liền thời đại các Sứ đồ với các thời đại sau.

Justin Martyr (100-167 S.C.).-- Sanh tại Néapolis, tức là thành Si-chem thời xưa, vào khoảng Sứ đồ Giăng qua đời. Ông đã học triết lý. Lúc trẻ tuổi, ông thấy nhiều tín đồ Đấng Christ chịu bắt bớ. Ông trở lại tin theo Chúa, mặc áo triết gia mà du hành, tìm cách dẫn dắt người ta đến cùng Đấng Christ. Ông viết một bản: "Binh vực đạo Đấng Christ," gởi cho hoàng đế. Ông là một trong những người có tài nhứt trong thời đại mình. Ông tuận đạo tại La-mã. Luận về sự bành trướng của đạo Đấng Christ, ông nói rằng đương thời mình, "chẳng có nhân chủng nào mà tại đó không có lời cầu nguyện dâng lên nhơn Danh Đức Chúa Jêsus."

Đây, Justin Martyr mô tả cuộc thờ phượng của tín đồ Đấng Christ trong Hội Thánh đầu tiên: "Đến Chúa nhật, mọi người ở đô thị và làng mạc nhóm họp; đọc một đoạn trong sách 'Bút ký của các Sứ đồ' và trong các sách Tiên tri tùy theo thì giờ nhiều, ít. Đọc xong, ông chủ tọa giảng một bài, khuyên hãy bắt chước những điều cao thượng ấy. Sau đó, chúng tôi đều đứng dậy và hiệp ý cầu nguyện. Cầu nguyện xong, theo như đã mô tả ở trên, ông chủ tọa cầm bánh và chén mà tạ ơn Chúa tùy theo khả năng của mình, và hội chúng đáp: 'A-men!' Bấy giờ bánh và chén đã biệt ra thánh bèn được phân phát cho mỗi người cùng dự phần; người nào vắng mặt, thì các chấp sự đem đến tận nhà cho họ. Bấy giờ người giàu có và người hằng tâm dâng tiền cho công việc Chúa tùy theo lòng mình muốn. Số tiền dâng nầy giao cho ông chủ tọa, và ông đem phân phát cho trẻ mồ côi, bà góa, người bị cầm tù, khách lạ và mọi người thiếu thốn."

Irénée (130-200 S.C.).-- Được trưởng dưởng tại thành Si-miệc-nơ. Môn đệ của Polycarpe và Papias. Du hành rất nhiều. Làm Giám mục thành Lyon, xứ Gaule (Pháp). Ông nổi tiếng nhứt vì viết sách chống phe Duy-tri. Tuận đạo. Đây là hồi ký của ông về Polycarpe: "Tôi nhớ rõ chỗ Thánh Polycarpe ngồi giảng dạy. Tôi nhớ những bài ông giảng cho dân chúng và những lời ông diễn tả mối liên quan của mình với sứ đồ Giăng và mấy người khác đã từng ở với Chúa. Tôi nhớ rõ ông đọc thuộc lòng những lời phán của Đấng Christ và thuật lại các phép lạ Ngài đã làm. Tôi nhớ rõ ông nói thể nào mình đã nhận lãnh đạo lý nơi những người mắt thấy tai nghe Lời Sự Sống, và đồng ý với Kinh Thánh về mọi phương diện."

Origène (185-224).-- Người có học thức nhứt trong Hội Thánh đầu tiên. Ông du hành rất nhiều, trứ tác rất nhiều sách, và có khi dùng tới 20 viên ký lục. Trong các tác phẩm của ông có trưng dẫn hai phần ba Tân Ước. Ông ở thành A-léc-xăn-đơ-ri, nơi cha của ông, là Léonidas, đã tuận đạo. Về sau ông ở xứ Pa-lét-tin, tại đây ông chết vì bị cầm tù và khảo đả dưới đời trị vì của Decius.

Tertullien (160-220) ở thành Carthage, có biệt danh là "cha của Hội Thánh La-tinh." Ông là một luật sư La-mã và vốn thờ tà thần. Sau khi trở lại tin Chúa, ông nổi danh vì binh vực đạo Đấng Christ.

Eusèbe (264-340), "cha của sử ký Hội Thánh," làm Giám mục thành Sê-sa-rê khi Constantin trở lại tin Chúa. Ông có ảnh hưởng lớn trên Constantin và viết một quyển "Sử ký Hội Thánh" từ Đấng Christ cho đến Giáo hội nghị Nicée.

Jean Chrysostome (347-406), "người có môi miệng vàng ngọc," một nhà diễn thuyết vô song; nhà truyền đạo trứ danh nhứt đương thời mình, và chuyên giảng nghĩa Kinh Thánh. Sanh tại An-ti-ốt; làm giáo trưởng (Patriarche) tại Constantinople; giảng cho vô vàn người trong nhà thờ Nữ Thánh Sophie. Ông là một nhà cải cách, không được đẹp lòng vua, nên bị lưu đày và chết tha hương.

Jérôme (340-420), "người học thức uyên bác nhứt trong số các Giáo phụ Hội Thánh La-tinh." Được giáo dục tại thành La-mã, sống lâu năm tại Bết-lê-hem; dịch Kinh Thánh ra tiếng La-tinh, gọi là bản "Vulgate," hiện nay còn là bản Kinh Thánh được Giáo hội Công giáo La-mã thừa nhận.

Augustin (354-430), Giám mục thành Hippo (Bắc Phi). Nhà thần học trứ danh của Hội Thánh đầu tiên. Hơn bất cứ người nào khác, ông đã nắn đúc các giáo lý của Hội Thánh thời Trung cổ. Lúc thanh niên, ông là một sanh viên xuất sắc, nhưng phóng đãng. Ông trở nên tín đồ Đấng Christ do ảnh hưởng của mẹ là Monique, của Ambroise ở thành Milan, và của các thơ tín Phao-lô.

Tác Phẩm Của Các Giáo Phụ Kế Tiếp Các Sứ­ Đồ

Thơ tín của Ba-na-ba (giữa 70 và 120 S.C.). Thơ tín của Clément ở thành La-mã gởi cho Hội Thánh Cô-rinh-tô (95 S.C.). Bảy bức thơ của Ignace (110). Thơ tín của Polycarpe gởi cho Hội Thánh Phi-líp (110). Sự dạy dỗ của 12 Sứ đồ (giữa 70 và 165). Người chăn chiên của Hẹt-ma (giữa 100 và 140), là bản "Thiên lộ Lịch trình" của Hội Thánh đầu tiên. Các Tàn bản của Papias. Quyển "Diatesseron" của Tatien, tức là bản dung hợp 4 sách Tin Lành (150). Còn nhiều tác phẩm khác. Những tác phẩm nầy rất đáng chú ý vì gần thời đại các Sứ đồ.

* * *

Sử Ký Hội Thánh 5

Các Hội Nghị Toàn Thể Tư Giáo

(Conciles oecuméniques)

Nicée (325 S.C.). Lên án Phản tam vị nhất thần luận (arianisme).

Constantinople (381). Được triệu tập để giải quyết tà thuyết Cơ đốc vô nhân tánh luận.

Ê-phê-sô (431). Được triệu tập để giải quyết tà thuyết Cảnh giáo (nestorianisme).

Chacédoine (451). Được triệu tập để giải quyết tà thuyết Nhị tánh hợp nhứt luận (eutychianisme).

Constantinople (553). Giải quyết tà thuyết Duy nhứt tánh luận (monophysisme).

Constantinople (680). Giải quyết tà thuyết về Đấng Christ có hai ý chí.

Nicée (787). Phê chuẩn sự thờ lạy hình tượng.

Constantinople (869). Đông phương và Tây phương đoạn tuyệt với nhau. Đây là Hội nghị toàn thể tư giáo sau chót. Những Hội nghị sau đây chỉ riêng của Giáo hội La-mã.

La-mã (1123). Quyết định rằng các Giám mục phải do Giáo hoàng đề cử.

La-mã (1139). Cố gắng chấm dứt sự đoạn tuyệt giữa Đông phương và Tây phương.

La-mã (1179). Thi hành kỷ luật trong Giáo hội và trong hàng giáo phẩm.

La-mã (1215). Để thi hành mạng lịnh của Giáo hoàng Innocent III.

Lyon (1245). Để giàn xếp cuộc tranh chấp giữa Giáo hoàng và hoàng đế.

Lyon (1274). Lại cố gắng liên hiệp Đông phương với Tây phương.

Vienne (1311). Diệt trừ các đoàn viên của phòng vệ giáo đường (Templiers).

Constance (1414-1418). Để cứu vãn sự ly khai do Giáo hoàng gây nên. Lên án thiêu chết ông Huss.

Bâle (1431-1449). Để cải cách Giáo hội.

La-mã (1512-1518). Lại cố gắng cải cách.

Trente (1545-1563). Để chống lại cuộc cải chánh Tin Lành.

Vatican (1869-1870). Tuyên bố rằng Giáo hoàng vô ngộ (infaillibilité).

Khổ Tu Chủ Nghĩa

Đây là một phản ứng chống lại tinh thần ham mến thế gian ở trong Hội Thánh, và có lẽ một phần là "phó sản" của duy tri chủ nghĩa (gnosticisme) vốn dạy rằng vật chất là tội ác. Phong trào nầy do Antoine (250-350 S.C.) phát khởi ở Ai-cập; ông đã bán hết sản nghiệp, lui vào đồng vắng và ở cô độc. Rất đông người theo gương ông. Họ được gọi là tu sĩ (ermite). Quan niệm của họ là phải đạt tới sự sống đời đời bằng cách tránh khỏi thế gian và hành hạ xác thịt theo lối khổ hạnh. Phong trào nầy lan tới xứ Pa-lét-tin, Sy-ri, Tiểu-Á-tế-á và Âu-châu. Ở Đông phương, mỗi người ở trong hang đá, hoặc túp lều, hoặc trên cây trụ riêng của mình. Ở Âu-châu, họ sống trong những cộng đồng, gọi là tu viện, chia thì giờ ra để làm công việc và hành đạo. Họ tăng số rất đông đúc, và có nhiều dòng tu sĩ cùng nữ tu sĩ dấy lên. Các tu viện Âu-châu đã làm công việc tốt nhứt của Giáo hội đương thời Trung cổ trong ngành bác ái theo tinh thần Đấng Christ, ngành văn chương, giáo dục và canh nông. Nhưng khi các tu viện trở nên giàu có, thì đổi ra hủ hoại, vô đạo một cách thô lỗ. Đương thời Cải chánh, tại các nước theo đạo Tin Lành, chẳng bao lâu các tu viện biến mất; còn trong các nước theo Công giáo, thì nó cũng giảm sút lần lần.

Các Cuộc Viễn Chinh Của Thập Tự Quân

Đây là giới tín đồ Đấng Christ cố gắng chiếm lại Xứ Thánh nơi tay người Hồi giáo. Có bảy cuộc viễn chinh của Thập-tự-quân:

Thứ nhứt (1095-1099).-- Chiếm Giê-ru-sa-lem.

Thứ hai (1147-1149).-- Trì hoãn sự sụp đổ của Giê-ru-sa-lem.

Thứ ba (1189-1191).-- Đạo quân không tiến đến Giê-ru-sa-lem được.

Thứ tư (1201-1204).-- Chiếm và cướp phá thành Constantinople.

Thứ năm (1228-1229).-- Chiếm Giê-ru-sa-lem, nhưng chẳng bao lâu lại bị chiếm mất.

Thứ sáu (1248-1254).-- Thất bại.

Thứ bảy (1270-1272).-- Tất cả là công dã tràng.

Các cuộc viễn chinh của Thập-tự-quân cùng sự thất bại không đạt tới mục đích đã có ảnh hưởng cứu được Âu-châu khỏi tay người Thổ-nhỉ-kỳ, cùng mở đường liên lạc thương mại, trí thức giữa Âu-châu và Đông phương. Như vậy, mở đường cho cuộc Phục hưng Văn nghệ.

Hồi Giáo

Mahomet.-- Sanh tại thành La Mecque, năm 570 S.C., là cháu nội của quan Tổng đốc. Chức vụ nầy chắc sẽ về tay ông, nhưng bị một người khác chiếm mất. Lúc thanh niên, ông đi viếng xứ Sy-ri, tiếp xúc với tín đồ Đấng Christ và người Do-thái, nên đầy lòng kinh tởm sự thờ lạy hình tượng. Năm 610, ông tự tuyên bố là tiên tri; bị chối bỏ tại La Mecque; năm 622, chạy tới thành Médine, và được dân chúng tiếp nhận. Ông trở thành một chiến sĩ, và bắt đầu dùng gươm để truyền bá đạo lý. Năm 630, ông cầm đầu một đạo quân, trở về thành La Mecque, hủy diệt 360 hình tượng, và đầy lòng hăng hái muốn tiêu diệt sự thờ lạy hình tượng. Qua đời năm 632. Các người kế tiếp ông gọi là "Calife."

Bành trướng mau lẹ.-- Khoảng năm 634, xứ Sy-ri bị chinh phục; năm 637, thành Giê-ru-sa-lem; năm 638, xứ Ai-cập; năm 640, xứ Ba-tư; năm 689, Bắc-phi; năm 711, Tây-ban-nha. Như vậy, trong một thời gian ngắn, cả Tây bộ Á châu và Bắc phi, là nơi phát sanh đạo Đấng Christ, trở theo Hồi giáo. Mohamet xuất hiện nhằm lúc Hội Thánh đã ngẫu tượng hóa vì có sự thờ lạy ảnh tượng, thờ lạy thánh vật, các thánh tử đạo, các thánh và thiên sứ. Các thần Hy-lạp đã bị thay thế bởi hình tượng của Ma-ri và của các thánh. Theo một phương diện, Hồi giáo là cuộc khởi nghĩa chống sự thờ lạy hình tượng của "thế giới Cơ-đốc-giáo," và là sự hình phạt giáng trên một Giáo hội hư hoại, thoái hóa. Tuy nhiên, đối với các quốc gia bị nó chinh phục, nó đã tự tỏ ra là một tai họa tệ hại hơn. Nó là tôn giáo nêu cao sự thù ghét, được truyền bá bằng cây gươm, khuyến khích chế độ tôi mọi, chủ nghĩa đa thê và sự bại hoại của phụ nữ.

Trận Tours, trên đất Pháp (năm 732), là một trong những trận quyết liệt của thế giới. Charles Martel đánh bại đạo quân Hồi giáo đang quét sạch thế giới như một ngọn thủy triều. Nếu chẳng có trận thắng ấy, thì có lẽ đạo Đấng Christ đã bị tiêu diệt hoàn toàn.

Người Ả-rập cầm quyền trên thế giới Hồi giáo từ 622-1058. Thủ đô được dời qua Đa-mách (661), rồi qua Bagdad (750), và cứ ở đó cho tới năm 1258. Thời đại hoàng kim của Hồi giáo đã thực hiện dưới đời Haroun-Al-Rashchild (786-809), là người đồng thời với Charlemagne ở Tây phương.

Người Thổ-nhĩ-kỳ cai trị thế giới Hồi giáo từ năm 1058 cho tới đầu thế kỷ nầy. Họ kỳ thị tôn giáo và tàn ác còn hơn người Ả-rập bội phần. Họ đối xử tín đồ Đấng Christ ở xứ Pa-lét-tin một cách rất dã man, nên đã gây ra các cuộc viễn chinh của Thập-tự-quân.

Người Mông cổ ở Trung bộ Á-châu, dưới sự lãnh đạo của Thành cát Tư hãn (1206-1227), đã chận đứng quyền thống trị của người Thổ-nhĩ-kỳ. Chỉ huy những đạo quân đông đúc, Thành cát Tư hãn đã cầm gươm và bó đuốc mà dong ruổi trên một phần lớn Á-châu; 50.000 đô thị và thị trấn đã bị thiêu đốt; 5 triệu dân đã bị tàn sát; ở Tiểu-Á-tế-á, 630.000 tín đồ Đấng Christ đã bị "làm thịt." Á-châu không bao giờ phục hồi lên được nữa. Đó là "tai họa khủng khiếp hơn hết từng giáng trên loài người"." Dưới đời Tamerlan (1336-1402), một luồng gió lốc tàn diệt tương tự quét sạch khắp nơi, kết quả đồng ruộng bị tàn phá, làng mạc bị đốt cháy, và huyết chảy thành sông. Hắn có thói quen chất đống hàng chục ngàn đầu người ở cổng mỗi đô thị; tại Bagdad, hắn đã chất đống 90 ngàn đầu lâu.

Thành Constatinople sụp đổ (1453), sa vào tay người Thổ-nhĩ-kỳ, do đó Đông đế quốc La-mã suy vong, khiến Âu-châu một lần nữa lại bị Hồi giáo đe dọa đô hộ; tuy nhiên, nền đô hộ ấy bị Jean Sobieski, vua Ba-lan, chận đứng tại trận Viene, năm 1683.

* * *

Sử Ký Hội Thánh 6

Danh Sách Các Giáo Hoàng Và Chế Độ Giáo Hoàng

 

Chế độ giáo hoàng là một sự phát triển lần lần

Xuất hiện lần đầu tiên với tư cách một đế quốc, nhằm thế kỷ thứ 6.

Đạt tới tuyệt điểm của thế lực nhằm thế kỷ thứ 13.

Thế lực suy vi từ thế kỷ thứ 13 cho tới ngày nay.

 

Sứ mạng nguyên thủy của Hội Thánh

Hội Thánh được thành lập, không phải là một tổ chức cầm quyền để bắt buộc thế giới sống theo giáo lý của Đấng Christ, nhưng chỉ là một tổ chức để làm chứng về Đấng Christ và nêu Ngài lên trước mặt người ta. Chính Đấng Christ, chớ không phải Hội Thánh, là Quyền phép thay đổi đời sống loài người. Nhưng Hội Thánh đã thành lập đương thời đế quốc La-mã, nên lần lần mang một hình thức chánh phủ cũng như thế giới chánh trị mà Hội Thánh đang ở trong đó. Vậy, Hội Thánh trở thành một tổ chức chuyên chế rộng lớn cai trị từ trên xuống.

 

Hình thức nguyên thủy của sự cai trị Hội Thánh

Lúc thời đại các Sứ đồ chấm dứt, thì các chi hội đều độc lập đối với nhau, mỗi chi hội do một ban Mục sư cai trị. Đứng đầu có một Mục sư gọi là Giám mục; về sau các vị Mục sư khác gọi là Trưởng lão. Lần lần quyền hành của Giám mục bao trùm cả những thị trấn lân cận.

 

Giáo hoàng đầu tiên

Nguyên văn chữ "Giáo hoàng" nghĩa là "Cha." Trước hết, nó áp dụng cho hết thảy Giám mục Tây phương. Khoảng năm 500 S.C., danh hiệu ấy bắt đầu hạn chế, chỉ dùng cho vị Giám mục thành La-mã; chẳng bao lâu, theo cách thông dụng, nó có nghĩa là "Cha chung," tức là Giám mục của cả Hội Thánh. Danh sách các Giáo hoàng của Giáo hội Công giáo gồm những Giám mục thành La-mã từ thế kỷ thứ nhứt trở đi. Nhưng trải qua 500 năm, các Giám mục thành La-mã Không Phải là Giáo hoàng, nghĩa là "Giám mục chung cả." Ý niệm Giám mục thành La-mã phải cầm quyền trên toàn thể Hội Thánh đã phát triển chậm chạp, mỗi bước mỗi bị tranh chấp ác liệt, và không bao giờ được toàn thể Hội Thánh thừa nhận.

 

Phi-e-rơ

Truyền thoại của Giáo hội Công giáo rằng Phi-e-rơ là vị Giáo hoàng đầu tiên, thì chỉ là một sự hoàn toàn bịa đặt. Không hề có một bằng cớ lịch sử nào chứng tỏ rằng ông từng làm Giám mục thành La-mã. Ông cũng chẳng bao giờ đòi cho chính mình cái quyền hành mà những "Kẻ kế vị" ông đã đòi. Dường như Đức Chúa Trời đã soi sáng cho Phi-e-rơ biết trước rằng những "kẻ kế vị" ông chỉ cốt mưu toan "quản trị," chớ chẳng lo "làm gương tốt cho cả bầy" (I Phi-e-rơ 5:3).

 

Các Giám mục đầu tiên ở thành La-mã

Linus (67-79) (?). Clétus (79-91) (?)

Clément (91-100). Viết một thơ cho Hội Thánh Cô-rinh-tô, nhơn danh Hội Thánh La- mã, chớ không nhơn danh mình. Trong thơ nầy không hề đả động đến quyền hành của Giáo hoàng mà các Giáo hoàng về sau đã tự nhận lấy.

Evariste (100-109). Alexandre I (109-119). Sixte I (119-128). Télesphore (128-139). Hygin (139-142). Pie I (142-154).

 

Khởi điểm chánh sách chuyên chế của Giám mục La-mã

Anicet, Giám mục thành La-mã (154-168), thử áp đảo Polycarpe, Giám mục thành Si-miệc-nơ, để thay đổi ngày giữ lễ Phục-sanh, nhưng Polycarpe không chịu nhượng bộ.

Soter (168-176). Elethère (177-190).

Victor I (190-202) dọa dứt phép thông công các chi hội Đông phương vì đã giữ lễ Phục sanh nhằm ngày 14, tháng giêng Do-thái. Polycarpe, Giám mục thành Ê-phê-sô, đáp rằng ông không sợ lời hăm dọa của Victor, và xác nhận quyền hành độc lập của mình. Irénée ở thành phố Lyon, dầu là một Giám mục Tây phương và dầu có thiện cảm với quan điểm Tây phương về sự giữ lễ Phục-sanh (tức là ngày trong tuần lễ, chớ không phải ngày trong tháng), song cũng quở trách Victor vì đã toan ra lịnh cho các chi hội Đông phương.

Zéphirin (202-218).

 

Ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Giám mục La-mã

Calixte I (218-223) là người thứ nhứt dựa sự yêu sách của mình trên sách Ma-thi-ơ 16:18Tertullien, ở thành Carthage, gọi ông là kẻ tiếm vị vì đã nói dường như mình là Giám mục của các Giám mục.

Urbain I (223-230). Pontiers (230-235). Antérus (235-236). Fabien (236-250). Cornelius (251-252). Lucius I (252-253).

Etienne I (253-257) phản đối một vài tục lệ trong việc làm lễ báp-têm của Hội Thánh Bắc Phi. Cyprien, Giám mục thành Carthage, cãi rằng mỗi vị Giám mục cầm quyền tối cao trong địa phận mình, và không chịu nhượng bộ Etienne. Tuy nhiên, người ta có cảm giác rằng La-mã, là thủ đô, đáng phải làm đầu của Giáo hội cũng như làm đầu đế quốc vậy.

Sixte II (257-258). Dionysius (259-279). Félix I (269-274). Eutychianus (275-283). Caius (283-296). Marcellin (296-304). Marcel I (308-309). Eusèbe (309-310). Miltiade (311-314).

 

Thống nhất Giáo hội và Quốc gia

Sylvestre I (314-335) làm Giám mục thành La-mã, dưới đời trị vì của Constantin, là lúc đạo Đấng Christ đã tiềm thế được tôn làm quốc giáo của đế quốc La-mã. Hội Thánh lập tức trở nên một cơ quan hệ trọng vô cùng trong nền chánh trị thế giới. Constantin tự coi là Đầu của Hội Thánh. Ông triệu tập Giáo hội nghị Nicée (325) và chủ tọa nó; đó là Giáo hội nghị đầu tiên của Hội Thánh, bao gồm cả thế giới. Giáo hội nghị cho các Giám mục thành A-léc-xăn-đơ-ri và thành An-ti-ốt được toàn quyền cai trị địa hạt của họ, cũng như Giám mục thành La-mã được toàn quyền cai trị địa hạt của mình, và Chẳng Chút Ngụ Ý rằng họ phải phục tòng Giám mục thành La-mã.

Marcus (336-337).

Jules I (337-352). Giáo hội nghị Sardes (343) gồm riêng các giáo phẩm tây phương, chớ không phải Giáo hội nghị toàn thế giới; đó là Giáo hội nghị đầu tiên thừa nhận quyền hành của Giám mục thành La-mã.

 

Năm vị Giáo trưởng (Patriarches)

Khoảng cuối thế kỷ thứ 4, phần lớn các chi hội và Giám mục của đạo Đấng Christ đã được quản trị bởi NĂM trung tân quan trọng, là La-mã, Constantinople, An-ti-ốt, Giê-ru-sa-lem, và A-léc-xăn-đơ-ri. Những Giám mục ở các trung tâm đó được gọi là Giáo trưởng, có quyền hành ngang nhau, và mỗi vị hoàn toàn kiểm soát địa hạt của mình. Sau khi đế quốc phân chia (395) thành Đông đế quốc và Tây đế quốc, thì các Giáo trưởng An-ti-ốt, Giê-ru-sa-lem, và A-léc-xăn-đơ-ri lần lần thừa nhận quyền lãnh đạo của Giáo trưởng Constantinople; và từ đây trở đi, sự tranh giành quyền lãnh đạo giới tín đồ Đấng Christ diễn ra giữa La-mã và Constantinople.

* * *

Sử Ký Hội Thánh 7

Danh Sách Các Giáo Hoàng Và Chế Độ Giáo Hoàng 2

 

Phân chia đế quốc La-mã

Libère (352-366). Damase I (366-384).

Siricius (385-398) đòi quản trị toàn thể Hội Thánh, nhưng chẳng may cho ông, đương thời ông, đế quốc phân chia thành hai đế quốc Đông, Tây riêng biệt (395), khiến cho Giám mục thành La-mã càng khó được Giáo hội Đông phương nhìn nhận quyền hành của mình.

 

Quyển sách "Thành Đức Chúa Trời" do Augustin trứ tác

Anastase (398-402).

Innocent I (402-417) tự xưng là "Kẻ cai trị Hội Thánh của Đức Chúa Trời," và đòi quyền giải quyết các vấn đề tranh chấp quan trọng trong Hội Thánh.

Zosime (417-418). Boniface (418-422). Célestin I (422-432). Sixte (432-440). Lúc nầy Tây đế quốc tan rã mau lẹ giữa cuộc di cư như bão tố của những dân dã man. Trong cảnh hoạn nạn, lo âu của thời đại ấy, Augustin đã viết quyển sách phi thường, nhan đề là "Thành Đức Chúa Trời," trong đó ông thấy trước Đế quốc Đấng Christ gồm cả thế giới. Quyển sách nầy có ảnh hưởng lớn lao, tạo nên dư luận ủng hộ một hệ thống Giáo hội toàn thế giới ở dưới quyền một vị Thủ lãnh. Sự trạng nầy khuyến khích sự đòi hỏi của Giám mục thành La-mã.

 

Hoàng đế nhìn nhận yêu sách của Giáo hoàng

Léon I (440-461) được một vài sử gia gọi là Giáo hoàng đầu tiên. Những hoạn nạn của đế quốc là cơ hội tốt cho Giáo hoàng. Đông đế quốc bị xâu xé bởi những cuộc tranh chấp; Tây đế quốc ở dưới quyền những hoàng đế nhu nhược, đã tan vỡ trước các dân dã man. Giáo hoàng là người hùng mạnh duy nhất trong giờ phút đó. Năm 452, Léon đã thuyết phục được Attila tha không hủy diệt thành La-mã. Sau đó, năm 455, ông lại khuyên được Genséric, người Vandale, thương xót thành ấy. Do đó, danh tiếng ông lên rất cao. Léon tự nhận rằng Đức Chúa Trời đã chỉ định mình làm Tổng chủ giáo của hết thảy Giám mục, và hoàng đế Valentinien III đã nhìn nhận sự tự nhận đó của ông (năm 445). Ông tự tôn là Chúa của cả Giáo hội, và binh vực quyền độc hữu của Giáo hoàng trên khắp thế giới; ông nói rằng chống lại quyền hành của ông tức là đi đường chắc chắn xuống địa ngục, và tuyên bố kẻ theo tà giáo sẽ bị tử hình. Mặc dầu có chiếu chỉ của hoàng đế, Giáo hội nghị Chalcédoine (năm 451), tức là Giáo hội nghị toàn thế giới lần thứ tư, gồm các Giám mục từ khắp bốn phương họp lại, đã trao cho vị Giáo trưởng thành Constantinople Những Đặc Quyền Ngang Với vị Giáo trưởng thành La-mã.

 

Đế quốc La-mã suy vong

Hilaire (461-468).

Simplice (468-483) là Giáo hoàng La-mã khi Tây đế quốc sụp đổ, năm 476. Do đó, các Giáo hoàng không còn bị chánh quyền cản trở nữa. Lúc nầy, Tây đế quốc đã phân tán thành nhiều nước nhỏ mới nổi lên, và những nước nầy đã hiến cho các Giáo hoàng cơ hội ký kết liên minh có lợi; vậy Giáo hoàng lần lần trở thành nhân vật có quyền hành nhứt ở Tây phương.

Felix III (483-492). Gélase (492-496). Anastase II (496-498). Symmaque (498-514). Hormisdas (514-523). Jean I (523-525). Félix IV (526-530). Boniface II (530-532). Jean II (532-535). Agapet I (535-536). Silvérius (536-540). Vigile (540-554). Pélage I (555-560). Jean III (569-573). Bénédict I (574-578). Pélage II (578-590).

 

Người thật làm Giáo hoàng đầu tiên

GRÉGOIRE I (590-604) được mọi người kể là Giáo hoàng đầu tiên. Ông xuất hiện nhằm lúc có sự hỗn độn chánh trị và dân chúng rất mực lầm than ở khắp cả Âu Châu. Sau khi đế quốc La-mã sụp đổ (476), thì xứ Ý-đại-lợi trở thành một nước của dân Goths; về sau nó trở thành một tỉnh ở dưới quyền cai trị của hoàng đế Đông phương; lúc nầy nó đang bị dân Lombards cướp phá. Ảnh hưởng của Grégoire trên vua nầy, vua kia, đã có hiệu lực làm cho địa vị ông vững vàng. Ông tự nắm trọn quyền kiểm soát Giáo hội ở Ý-đại-lợi, Tây-ban-nha, xứ Gaule và Anh-cát-lợi (việc Anh-cát-lợi trở lại đạo Đấng Christ là biến cố trọng đại đương thời Grégoire). Ông hoạt động không hề mệt nhọc để tẩy sạch Giáo hội; bãi chức những Giám mục biếng nhác hoặc không xứng đáng, và rất hăng hái chống lại sự bán đồ thánh (simonie). Ông có ảnh hưởng rất lớn tại Đông phương, mặc dầu ông không đòi quyền kiểm soát Giáo hội Đông phương. Vị Giáo trưởng thành Constantinople tự xưng là "Giám mục toàn cầu." Điều đó làm cho Grégoire tức giận; ông phủ nhận tước hiệu ấy, cho là "danh từ xấu xa, ngạo mạn," và không chịu để người ta áp dụng nó cho chính mình ông. Tuy nhiên, về thực tế, ông thi hành mọi quyền lực gồm trong chức vị ấy. Trong đời tư, ông là một người tốt, một trong những Giáo hoàng trong sạch nhứt và tốt nhứt. Ông cố gắng không hề mệt nhọc để thi hành công lý cho kẻ bị hà hiếp, và có sự từ thiện không bờ bến đối với kẻ nghèo. Nếu hết thảy Giáo hoàng giống như ông, thì thế giới chắc phải đánh giá chế độ Giáo hoàng khác hẳn!

Sabinanus (604-606). Boniface III (607). Boniface IV (608-614). Deusdedit (615- 618). Boniface V (619-625). Honorius I (625-638). Séverin (640). Jean IV (640-642). Théodore I (642-649). Martin I (649-653). Eugène I (654-657). Vitalien (657-672). Adéodatus (672-676). Donus I(676-678). Agathon (678-682).

Léon II (682-683) lên án Honorius I là "Kẻ theo tà giáo." Kỳ lạ thật! Một Giáo hoàng "vô ngộ" gọi một Giáo hoàng "vô ngộ" khác là "Kẻ theo tà giáo." Nhưng có lẽ lúc đó các Giáo hoàng chưa trở thành "vô ngộ," vì mãi tới Giáo hội nghị Vatican, năm 1870, họ mới được nhìn nhận là vô ngộ.

Bénédict II (684-685). Jean V (685-686). Cono (686-687). Théodore (687). Sergius I (687-701). Jean VI (701-705). Jean VII (705-707). Sisinnius (708). Constantin (708-715). Grégoire II (715-731). Grégoire III (731-741).

 

Giáo hoàng trở thành một vua trần gian

Zachrie (741-752) đã nhúng tay làm cho Pépin (cha của Charlemagne) nên vua của dân Francs (một dân tộc Nhật-nhĩ-mãn chiếm cứ miền Tây nước Đức và miền Bắc nước Pháp).

Etienne II (752-757). Theo lời yêu cầu của ông, Pépin dẫn một đạo quân tới xứ Ý- đại-lợi, chiến thắng dân Lombards, và hiến đất đai của chúng (gồm phần lớn xứ nầy) cho Giáo hoàng. Đó là khởi điểm của các "Lãnh Thổ Giáo Hoàng" hoặc "Quyền Cai Trị Trần Thế" của các Giáo hoàng. Quyền hành chánh tại La-mã và trung bộ Ý-đại-lợi nằm trong tay các Giáo hoàng, do Zachrie và Etienne thiết lập, được Pépin thừa nhận năm 754, và về sau (774) được Charlemagne xác nhận. Trung bộ Ý-đại-lợi xưa kia là trung tâm đế quốc La-mã, rồi là một nước của dân Goths, rồi là một tỉnh của Đông đế quốc, và lúc nầy trở thành Nước Của Giáo Hoàng, ở dưới quyền cai trị của Đầu Giáo hội. Nó tồn tại 1100 năm, mãi tới năm 1870.

Paul I (757-767). Etienne III (768-772). Adrien I (772-795).

* * *

Sử Ký Hội Thánh 8

Danh Sách Các Giáo Hoàng Và Chế Độ Giáo Hoàng 3

Quyền hành của Giáo hoàng được Charlemagne gia tăng rất nhiều

Léon III (795-816) ban cho Charlemagne (năm 800) tước hiệu "Hoàng đế La-mã," để đáp lại việc Charlemagne thừa nhận (năm 774). Giáo hoàng có quyền hành trần thế trên các "Lãnh thổ Giáo hoàng." Do đó, nước La-mã và nước Franc hiệp thành "Đế Quốc La Mã Thánh;" và cũng do đó, thủ đô dời từ Constantinople qua Aix-la- Chapelle, ở Tây Đức, Charlemagne (742-814), vua của dân Francs, cháu nội của Charles Martel (người đã cứu Âu Châu khỏi tay quân Hồi giáo), là một trong những bậc cầm quyền danh tiếng nhứt mọi thời đại. Ông trị vì 46 năm, đã nhiều lần tranh chiến và chinh phục hết sức lớn lao. Nước ông gồm lãnh thổ hiện tại của các nước Đức, Pháp, Thụy-sĩ, Áo, Hung, Bỉ, và một phần Ý, Tây-ban-nha. Ông giúp Giáo hoàng, và Giáo hoàng giúp ông. Ông Là Một Trong Những Ảnh Hưởng Lớn Lao Nhứt đưa Chế Độ Giáo Hoàng đến địa vị Cường Quốc Cai Quản Thế Giới. Sau khi ông chết ít lâu, do hiệp ước Verdun (843), đế quốc của ông bị chia làm mấy phần, làm nền tảng của các nước Đức, Pháp và Ý ngày nay. Từ đó trở đi, trải qua nhiều thế kỷ, giữa Giáo hoàng và vua Pháp, vua Đức có sự tranh giành ngôi bá chủ không ngớt.

 

"Đế quốc La-mã thánh"

Vậy, do Charlemagne và Léon III thành lập, La-mã đã tuyên bố độc lập đối với Constantinople; thế là Tây đế quốc được tái lập, có các vua Đức ngồi trên ngôi, mang tước hiệu "Sê-sa" do Giáo hoàng phong cho. Người ta cho rằng đó là đế quốc La-mã thời xưa khôi phục. Đế quốc nầy ở dưới quyền cai trị của cả Giáo hoàng hoàng đế Đức: Hoàng đế kiểm soát các vấn đề trần thế, còn Giáo hoàng kiểm soát các vấn đề thiêng liêng. Nhưng vì Giáo hội là một tổ chức quốc gia, nên không phải lúc nào cũng dễ phân định quyền hạn, và kết quả của sự chung đụng nầy là có nhiều cuộc tranh giành ác liệt giữa hoàng đế và Giáo hoàng. Đế quốc La-mã thánh, "một danh hiệu hơn là một sự thực hiển nhiên," đã tồn tại 1000 năm, rồi bị Nã-phá-luân kết liễu năm 1806. Nó đã đạt được mục đích hòa hợp nền văn minh La-mã với nền văn minh Đức. Ông Bryce nói rằng: "Tất cả sự sống của thế giới thời cổ đã dồn vào đế quốc nầy; và sự sống của thế giới hiện kim đã từ nó mà phát xuất."

Etienne IV (816-817). Pascal I (817-824). Eugène II (824-827). Valentin (827). Grégoire IV (827-844). Sergius II (844-847). Léon IV (847-855). Bénédict III (855- 858).

 

Các Giáo lệnh (décrétales) giúp đỡ chế độ Giáo hoàng

Nicolas I (858-867) là Giáo hoàng oai hùng nhứt ở khoảng giữa Grégoire I và Grégoire VII. Ông là Giáo hoàng đầu tiên đội mũ triều thiên. Để ủng hộ yêu sách cầm quyền trên cả thế giới của mình, ông đã dùng quyển "Giáo lệnh tập" rất có hiệu lực. Quyển sách nầy xuất hiện lần đầu tiên năm 857, và chứa tài liệu có vẻ như là những bức thơ của các Giám mục và Giáo hội nghị thế kỷ thứ 2, thứ 3, hết thảy có khuynh hướng tôn cao quyền lực của Giáo hoàng. Người ta đã cố ý giả mạo và sửa đổi nhiều tài liệu lịch sử thời xưa, nhưng mãi đến mấy thế kỷ sau, người ta mới khám phá ra nó là giả mạo. Dầu Nicolas biết nó là giả mạo hay không, song ông cũng đã nói dối khi quả quyết rằng nó đã được giữ gìn trong văn khố của Hội Thánh tại La-mã từ thời xưa. Nhưng nó đã có hiệu lực "làm cho các yêu sách của giới thầy cả thời Trung cổ in rõ quyền hành thời thượng cổ." "Chế độ Giáo hoàng là một sự phát triển trải qua nhiều thế kỷ, song người ta làm cho chế độ ấy xuất hiện như một sự trạng toàn vẹn và không hề thay đổi ngay từ lúc ban đầu."

"Giáo lệnh tập" nầy gồm có "Chiếu chỉ ban tặng của Constantin," tỏ ra ông đã cho Giám mục thành La-mã những tỉnh miền Tây với tất cả phù hiệu của đế quốc. "Mục đích cốt để tạo ra quyền hành trần thế của Giáo hoàng từ 5 thế kỷ trước; thật ra thì quyền hành nầy dựa trên sự ban tặng của Pépin và Charlemagne." Đó là "sự giả mạo văn phẩm to tát nhứt trong lịch sử." "Nó tăng sức mạnh cho chế độ Giáo hoàng hơn bất cứ động lực nào khác, và đặt một phần lớn nền tảng cho quy luật tôn giáo của Giáo hội La-mã."

 

Sự phân chia lớn của giới tín đồ Đấng Christ

Nicolas toan tính can thiệp vào công việc của Giáo hội Đông phương. Ông dứt phép thông công của Photius, Giáo trưởng thành Constantinople, và Photius cũng dứt phép thông công ông. Do đó, giới tín đồ Đấng Christ bị phân chia (năm 869), và sự phân chia ấy hoàn tất năm 1054. Dầu Đế quốc đã bị phân chia từ năm 395, dầu giữa Giáo hoàng ở La-mã và Giáo trưởng ở Constantinople đã có cuộc tranh quyền bá chủ dai dẳng và kịch liệt, song Hội Thánh vẫn còn Thống Nhứt. Giáo hội nghị vẫn có đại biểu của cả Đông phương và Tây phương đến dự. Trải qua 6 thế kỷ đầu tiên, Đông phương đã thể hiện dòng sanh hoạt chánh yếu và là phần quan trọng hơn hết của Hội Thánh. Hết thảy Giáo hội nghị toàn thế giới đã nhóm lại hoặc gần Constantinople, và đều dùng tiếng Hi-lạp; tại đó các tranh chấp về giáo lý đã được giải quyết. Nhưng, rốt lại, lúc nầy người ta không chịu nổi việc Giáo hoàng khăng khăng đòi làm Chúa của giới tín đồ Đấng Christ, nên Đông phương tự chia rẽ dứt khoát. Giáo hội nghị Constantinople, năm 869, là Giáo hội nghị toàn thế giới sau chót. Từ đây trở đi, Giáo hội Hi-lạp có Giáo hội nghị riêng, và Giáo hội La-mã cũng có Giáo hội nghị riêng. Trải qua các thế kỷ, sự chia rẽ càng sâu rộng hơn. Đương thời Thập tự quân viễn chinh, quân đội của Giáo hoàng Innocent III đối xử với dân thành Constantinople rất tàn bạo, nên càng làm cho Đông phương cay đắng. Và sự tạo nên giáo lý về Giáo hoàng vô ngộ (năm 1870) làm cho vực sâu càng sâu hơn. Giới tín đồ Đấng Christ đã bị chia hai như vậy, và đến thế kỷ thứ 16, lại trải qua một cuộc phân chia lớn lao hơn nữa, dưới sự lãnh đạo của Martin Luther; mà Cũng ChỉVì Một Nguyên Nhân, tức là Giáo hoàng quyết định làm Chúa của dân Đức Chúa Trời.

 

Thời kỳ tối tăm hơn hết của chế độ Giáo hoàng

Adrien II (867-872). Jean VIII (872-882). Marin (882-884). Với những Giáo hoàng nầy, đã mở đầu Thời Kỳ Tối Tăm Hơn Hết của chế độ Giáo hoàng (870-1050). Các sử gia gọi khoảng 200 năm giữa Nicolas I và Grégoire VII là "nửa đêm của thời kỳ hắc ám." Hối lộ, hư hoại, vô luân lý và đổ máu tạo thời kỳ nầy gần thành chương đen tối hơn hết của cả sử ký Hội Thánh.

Adrien III (884-885). Etienne V (885-891). Formose (891-896). Boniface VI (896). Etienne VI (896-897). Romain (897). Théodore II (898). Jean IX (898-900). Bénédiet IV (900-903). Léon V (903). Christophe (903-904).

* * *

Sử Ký Hội Thánh 9

Danh Sách Các Giáo Hoàng Và Chế Độ Giáo Hoàng 4

" Quyền cai trị của bọn đờn bà xấu nết" 

Sergius III (904-911) có một tình nhân, tên là Marozia. Nàng, mẹ nàng là Théodora (vợ hoặc vợ góa của một nguyên lão nghị viên La-mã), và chị nàng "đã làm cho ghế của Giáo hoàng đầy dẫy hư hoại, khiến cung điện của Giáo hoàng trở thành một ổ bất lương." Lịch sử gọi tình trạng đó là xướng kỹ chánh trị (pornocratie), hoặc "quyền cai trị của bọn đờn bà xấu nết."

Anastase III (911-913). Lando (913-914). Jean X (914-28) đã được Théodora (vốn có nhiều tình nhân khác nữa) đem từ Ravenne về La-mã để được tôn làm Giáo hoàng, ngõ hầu thỏa mãn dục vọng của nàng một cách thuận lợi hơn. Ông bị Marozia bóp cổ đến chết, rồi nàng đưa nhiều người của mình nối tiếp nhau lên ngôi Giáo hoàng, tức là Léon IV (928-929), Etienne VII (929-931), và Jean XI (931-936), là con trai riêng của nàng. Một con trai khác của nàng đã cử bốn người sau đây làm Giáo hoàng: Léon VII (936-939), Etienne VIII (939-942), Martin III (942-946), và Agapet II (946-955).

Jean XII (955-963), cháu nội của Marozia, "đã phạm hầu hết các trọng tội; hãm hiếp trinh nữ và bà góa thuộc về thượng lưu hoặc hạ lưu; chung sống với tình nhân của cha mình; biến cung điện Giáo hoàng thành một nhà hoan lạc; đang phạm tội tà dâm với một mụ đờn bà, thì bị chồng mụ ấy hạ sát trong cơn giận dữ."

 

Chế độ Giáo hoàng hư hoại cùng tột

Léon VIII (963-965). Jean XIII (965-972). Bénédict VI (972-974). Donus II (974). Bénédict VII (975-983). Jean XIV (983-984).

Boniface VII (984-985) hạ sát Giáo hoàng Jean XIV và "ngồi vững trên ngôi Giáo hoàng vấy huyết nhờ cách phân phát rộng rãi tiền bạc đã ăn cắp được." Luận về Jean XIILéon VIII và Boniface VII, vị Giám mục thành Orléans gọi họ là "ác quỉ, bốc mùi hôi thúi của huyết và ô uế, là Antichrist ngồi trong Đền thờ Đức Chúa Trời."

Jean XV (985). Jean XVI (985-996). Grégoire V (996-999). Sylvestre II (999-1003). Jean XVII (1003). Jean XVIII (1003-1009). Sergius IV (1009-1012).

Bénédict VIII (1012-1024) nhờ hối lộ công khai mà được chức vị Giáo hoàng; sự trạng nầy gọi là "simonie," tức là mua bán chức thánh trong Giáo hội lấy tiền.

Jean XIX (1024-1033) đã mua chức vị Giáo hoàng. Ông vốn là người không có phẩm tước Giáo hội, và đã trải qua hết thảy phẩm tước Giáo hội trong một ngày.

Bénédict IX (1033-1045) đã được chức vị Giáo hoàng khi mới là một cậu con trai 12 tuổi, nhờ cuộc trả giá tiền bạc cho các gia tộc có quyền thế đang cai trị tại La-mã. Ông nầy "còn gian ác hơn Jean XII; phạm tội sát nhân và tà dâm giữa ban ngày; bắt cóc những kẻ đến hành hương nơi phần mộ các thánh tử đạo; ông là một kẻ sát nhân đáng ghê tởm, nên dân chúng đã đuổi ông khỏi thành La-mã."

Grégoire VI (1045-1046) đã mua chức vị Giáo hoàng. Có ba Giáo hoàng kình địch nhau, là Bénédict IX, Grégoire VII và Sylvestre III. "Thành La-mã đầy dẫy những kẻ giết người mướn; tiết hạnh của các tín nữ đến hành hương bị xâm phạm; thậm chí các nhà thờ cũng bị phàm tục hóa vì cớ đổ huyết."

Clément II (1046-1047) được Henry III, hoàng đế nước Đức cử làm Giáo hoàng, vì "không thể tìm thấy tại La-mã một giáo phẩm nào chẳng bị ô uế bởi sự bán chức thánh và tội gian dâm." Tình hình đáng phẩn nộ đó đòi hỏi một cuộc cải cách.

Damase II (1048). Có những người lớn tiếng phản đối sự ô uế và xấu xa của Giáo hoàng. Tiếng kêu đòi hỏi cải cách đã được Hildebrand hưởng ứng, và ông đứng ra lãnh đạo cuộc cải cách.

 

Hoàng kim thời đại của thế lực Giáo hoàng

Hildebrand người thấp nhỏ, vẻ mặt thô kịch, tiếng nói yếu ớt, nhưng trí tuệ thông minh, tinh thần sốt sắng; ông là người quả quyết, "người bằng máu và sắt," hăng hái binh vực quyền hành chuyên chế của Giáo hoàng. Ông gia nhập phái chủ trương cải cách, và đưa chế độ Giáo hoàng tới Hoàng Kim Thời Đại (1049-1294). Ông kiểm soát nền hành chánh của năm Giáo hoàng kế tiếp nhau, ngay trước khi chính mình ông lên nắm quyền hành chánh.

Léon IX (1049-1054). Victor II (1055-1057), vị Giáo hoàng người Đức cuối cùng. Etienne IX (1057-1058). Nicolas II (1059-1061). Dưới nền hành chánh của ông nầy, sự tuyển cử Giáo hoàng không còn ở tay hoàng đế nữa, nhưng do các Hồng y Giáo chủ. Cũng từ đây trở đi, trừ ra một ít trường hợp (các Giáo hoàng đóng tại Avignon), con thì các Giáo hoàng đều được lực chọn trong vòng Giáo phẩm La-mã. Alexandre II (1061-1073).

Grégoire VII, tức Hildebrand (1073-1085). Mục đích cao cả của ông là cải cách giáo phẩm (clergé). Hai tội lan tràn nhiều nhứt trong vòng giáo phẩm là hành vi hủ hoại và mua bán chức thánh. Để cứu chữa sự hủ hoại của họ, Grégoire cương quyết đòi họ phải ở độc thân. Và để cứu chữa sự mua bán chức thánh trong nhà thờ của họ, ông chống lại đặc quyền hoàng đế đề cử các chức quyền Giáo hội. Về thực tế, hết thảy Giám mục và thầy cả đã trả tiền mua chức vị; ấy vì Giáo hội có phần nửa tất cả tài sản cùng lợi tức rất lớn, nên họ được cơ hội sống trong xa hoa. Các vua thường bán chức vị trong Giáo hội cho người nào trả giá cao nhứt, bất cứ họ có tư cách hoặc tâm tính xứng đáng hay không. Tình trạng nầy đưa Grégoire đến chỗ tranh đấu kịch liệt với Henri IV, hoàng đế Đức. Henri bèn truất phế Grégoire. Đối lại, Grégoire dứt phép thông công và truất phế Henri. Cuộc chiến tranh xảy ra. Suốt mấy năm, xứ Ý-đại-lợi bị tàn phá bởi những đạo quân thù địch. Rốt lại, Grégoire bị đuổi khỏi thành La-mã và chết tha hương. Nhưng ông đã làm cho chế độ Giáo hoàng được độc lập phần lớn đối với quyền hành của hoàng đế. Ông nhiều lần tự xưng là "bá chủ (suzerain) của các vua chúa." Và ông đã thực hiện được yêu sách của mình.

Victor III (1086-1087). Urbain II (1088-1099) tiếp tục giao chiến với hoàng đế; làm thủ lãnh phong trào Thập tự quân viễn chinh. Do đó, Giáo hoàng càng ngày càng lãnh đạo giới tín đồ Đấng Christ.

Pascal II (1099-1118) tiếp tục giao chiến với hoàng đế Đức để giành quyền đề cử các phẩm chức Giáo hội.

Galasius II (1118-1119). Calixte II (1119-1124), do hòa thân điều ước (concordat) ký tại Worms, đã thỏa hiệp được với hoàng đế Đức, và hòa bình trở lại sau 50 năm chiến tranh.

Honorius II (1124-1130). Innocent II (1130-1143) dùng quân lực duy trì chức vị của mình, chống lại Giáo hoàng giả Anaclet II, là người đã được mấy gia tộc quyền thế tại La-mã lựa chọn.

Célestin II (1143-1144). Lucius II (1144-1145). Eugène III (1145-1153). Anastase IV (1153-1154). Adrien IV (1154-1159). Đây là người Anh duy nhứt làm Giáo hoàng. Ông đem đảo Ái-nhĩ-lan tặng vua nước Anh, và cho phép vua nầy nhận lấy. Giáo hoàng kế tiếp, là Alexandre III, lại cho phép ấy, song đến năm 1171 mới thi hành.

Alexandre III (1159-1181). Vị Giáo hoàng oai hùng nhứt ở giữa khoảng Grégoire VII và Innocent III. Ông giao tranh với 4 Giáo hoàng giả, và lại khai chiến với hoàng đế Đức để giành ngôi bá chủ. Sau 5 năm chiến tranh và nhiều trận đánh ác liệt giữa quân của hoàng đế FrédéricBarbarossa và của Giáo hoàng (thêm vào đó có các liên minh của cả đôi bên), diễn ra cảnh tàn sát khủng khiếp, thì hoàng đế ký hòa ước Venise (năm 1177). Alexandre bị dân chúng đuổi khỏi La-mã, và chết tha hương, y như số phận của nhiều Giáo hoàng khác,

Lucius III (1181-1185). Urbain III (1185-1187). Grégoire VIII (1187). Clément III (1187-1191). Célestin III (1191-1198).

* * *

Sử Ký Hội Thánh 10

Danh Sách Các Giáo Hoàng Và Chế Độ Giáo Hoàng 5

 

Tuyệt điểm của quyền lực Giáo hoàng

Innocent III (1198-1216) là Giáo hoàng có thế lực hơn hết. Ông tự nhận là "Đại diện của Đấng Christ," "Đại diện của Đức Chúa Trời," "Vua cao cả cầm quyền trên Giáo hội và thế giới;" tự nhận có quyền truất phế các vua chúa, và quả quyết rằng "mọi vật dưới đất, trên trời và ở địa ngục đều phải phục tòng vị Đại diện của Đấng Christ." Ông đưa Giáo hội lên cầm quyền kiểm soát tối cao trên nhà nước. Các vua Đức, Pháp, Anh và -- về thực tế -- hết thảy vua chúa Âu-châu vâng theo ý muốn của ông. Thậm chí ông kiểm soát được cả Đông đế quốc, mặc dầu vì ông đối xử Constantinople rất tàn bạo, nên kết quả Đông phương càng thù ghét ông. Trong lịch sử chưa hề có một người nào hành quyền tới mức đó. Ông ra lịnh cho Thập tự quân đi viễn chinh hai lần; ký sắc lịnh tuyên bố phép hóa thể (transsubstantialion), tức là bánh và nước nho của Tiệc thánh biến thành Thịt và Huyết thật của Chúa; xác nhận sự xưng tội với thầy cả; tuyên bố rằng người kế vị Phi-e-rơ "không bao giờ, bằng bất cứ cách nào, có thể tách khỏi đức tin Công giáo," tức là sự vô ngộ của Giáo hoàng đó; lên án bản Tín điều; cấm đọc Kinh Thánh bằng tiếng bổn xứ; truyền lịnh tuyệt diệt bọn theo tà giáo; thiết lập Tôn Giáo Pháp Đình (Inquisition); truyền lịnh tàn sát giáo phái Albigeois. Dưới quyền cai trị của ông và của những người kế vị ông gần nhứt, huyết đã đổ ra hơn bất cứ thời đại nào trong sử ký Hội Thánh, duy chỉ kém lúc Giáo hoàng cố gắng đè bẹp cuộc Cải chánh nhằm thế kỷ thứ 16 và 17. Người ta tưởng chừng con thú trong sách Khải Huyền đã lấy danh nghĩa chiên con mà xuất hiện.

 

Quyền lực của Giáo hoàng được duy trì bởi Tôn giáo Pháp đình

Tôn giáo Pháp đình, gọi là "ChứcC Vụ Thánh," đã do Giáo hoàng Innocent III thiết lập, và đã được kiện toàn dưới đời cai trị của Giáo hoàng thứ hai kế vị ông, là Grégoire IX. Ấy là tòa án của Giáo hội để khám phá và hình phạt những kẻ theo tà giáo. Dưới chế độ của Tôn giáo Pháp đình, ai nấy buộc phải tố cáo kẻ theo tà giáo. Kẻ nào bị nghi ngờ theo tà giáo thì bị tra khảo, mà không biết tên kẻ tố cáo mình là gì. Sự điều tra tiến hành bí mật. Viên chánh thẩm của Tôn giáo Pháp đình tuyên án, rồi nạn nhân bị giao cho chức quyền hành chánh để bỏ tù chung thân hoặc để thiêu chết. Tài sản của nạn nhân bị tịch thâu, rồi cho Giáo hội và nhà nước chia nhau. Trong thời kỳ kế tiếp ngay Innocent III, Tôn giáo Pháp đình đã làm công việc khủng khiếp hơn hết ở miền Nam nước Pháp (xem ở dưới mục: "Giáo phái Albigeois"), còn ở Tây-ban-nha, Ý, Đức, Hà-lan, cũng có vô số nạn nhân của nó. Về sau, Tôn giáo Pháp đình là cơ quan chánh yếu mà Giáo hoàng sử dụng để cố gắng đè bẹp cuộc Cải chánh. Lịch sử chứng quyết rằng giữa khoảng 1540 và 1570, rất ít là 900.000 tín đồ Tin Lành đã bị xử tử trong cuộc chiến tranh của Giáo hoàng cốt để tiêu diệt giáo phái Vaudois. Hãy nghĩ xem, với sự tàn bạo vô lương tâm và hung ác vô nhân đạo, các tu sĩ và thầy cả chỉ huy cuộc tra khảo và thiêu sống những người nam, người nữ vô tội; và họ làm việc ấy nhơn Danh Đấng Christ, do linh trực tiếp của vị "Đại diện Đấng Christ." Tôn Giáo Pháp Đình là Sự Trạng Nhơ Nhuốc Hơn Hết trong lịch sử. Các Giáo hoàng đã thiết lập nó và dùng nó trong 500 năm để duy trì quyền hành của mình. Tất cả Giáo hoàng "thánh và vô ngộ" theo sau đều không hề tỏ ý ân hận về kỷ lục của nó.

 

Chiến tranh tiếp diễn chống hoàng đế Đức

Honorius III (1216-1227). Grégoire IX (1227-1241). Innocent IV (1241-1254) đã lấy tư cách Giáo hoàng mà phê chuẩn sự dùng phương pháp tra khảo để bắt buộc những kẻ bị nghi theo tà giáo phải cung khai. Dưới đời cai trị của các Giáo hoàng nầy, Fredéric II, hoàng đế Đức, cháu nội của Fredéric Barbarossa, một kẻ thù quyết tử mà chế độ Giáo hoàng gặp phải, đã lãnh đạo đế quốc mình trong cuộc giao tranh ác liệt cuối cùng chống chế độ Giáo hoàng. Sau nhiều cuộc chiến tranh tiếp diễn, đế quốc Đức bị hạ xuống và Giáo hoàng vươn tới địa vị cao cả.

Alexandre IV (1254-1261). Urbain IV (1261-1264). Clément IV (1265-1268). Grégorie X (1271-1276). Innocent V (1276). Jean XXI (1276-1277). Nicolas III (1277-1280). Martin IV (1281-1285). Honorius IV (1285-1287). Nicolas IV (1288-1292). Célestin V (1294).

 

Chế độ Giáo hoàng bắt đầu suy yếu

Boniface VIII (1294-1303), trong sắc lịnh (bulle) "Unam Sanctam" nổi danh đã nói: "Ta tuyên bố, quả quyết, giải thích và báo cáo rằng muốn được cứu rỗi, người nào cũng tuyệt đối cần phải phục tòng Giáo hoàng La-mã." Tuy nhiên, ông bại hoại đến nỗi trong cuộc thăm viếng thành La-mã đang khi ông làm Giáo hoàng, thi sĩ Dante đã gọi Vatican là "lỗ cống hư hoại," và chỉ định ông cùng Nicolas IIIClément V đến ở nơi đáy địa ngục. Boniface VIII nhận chức Giáo hoàng lúc chức nầy ở tuyệt điểm; nhưng ông đã gặp tay địch thủ là Philippe le Bel, vua nước Pháp. Dưới chơn vua nầy, chế độ Giáo hoàng đã bị hạ xuống tận bụi đất, và bước vào KỶ NGUYÊN SUY YẾU.

 

Vua Pháp kiểm soát Giáo hoàng

Chế độ Giáo hoàng đã thắng trong cuộc giao tranh với đế quốc Đức, kéo dài 200 năm. Nhưng lúc nầy, vua Pháp đã trở thành vị đế vương thủ lãnh Âu châu; một tinh thần quốc gia và độc lập đã nảy nở giữa vòng dân Pháp (chắc nó là kết quả một phần do Giáo hoàng tàn sát giáo phái Albigeois, người Pháp trong thế kỷ trước). Philippel le Bel, là người mở đầu trang sử hiện đại của Pháp, bèn ra tay chống lại chế độ Giáo hoàng. Cuộc xung đột bắt đầu với Boniface VIII, về vụ đánh thuế hàng giáo phẩm Pháp. Chế độ Giáo hoàng đã phải hoàn toàn đầu phục nhà nước, và sau khi Bénédict XI (1303-1304) qua đời, thì cung điện Giáo hoàng bị dời từ La-mã đến Avignon, trên biên giới phía Nam nước Pháp. Suốt 70 năm, chế độ Giáo hoàng chỉ là đồ chơi của triều đình Pháp.

 

Chế độ Giáo hoàng bị "lưu đày tại Ba-by-lôn"

Trong 70 năm (1305-1377), cung điện Giáo hoàng ở tại Avignon.

Clément V (1305-1314). Jean XXII (1316-1334), người giàu có nhứt Âu châu. Bénédict XII (1334-1342). Clément VI (1342-1352). Innocent VI (1352-1362). Urbain V (1362-1370). Grégoire XI (1370-1378). Sự biển lận của các Giáo hoàng tại Avignon thật không bờ bến; họ đánh thuế rất nặng, chức vị nào trong Giáo hội cũng đem bán lấy tiền; nhiều chức vị mới được đặt ra, bán lấy tiền để đựng đầy tủ sắt của các Giáo hoàng và đài thọ các khoản kinh phí trong triều đình xa hoa, hủ hoại của họ. Pétrarque tố cáo bộ hạ của Giáo hoàng đã hãm hiếp, ngoại tình và phạm đủ thứ gian dâm. Tại nhiều giáo khu, người ta nài xin thầy cả cưới vợ bé để che chở cho gia đình họ. Thời kỳ "lưu đày" là một đòn nặng cho uy tín của Giáo hoàng.

* * *

Sử Ký Hội Thánh 11

Danh Sách Các Giáo Hoàng Và Chế Độ Giáo Hoàng 6

 

Sự ly khai giữa các Giáo hoàng

Kéo dài 40 năm (1377-1417), trong khoảng đó có hai lớp Giáo hoàng, một ở La-mã, một ở Avignon, cả hai cùng tự nhận là "Đại diện Đấng Christ," và bên nầy hung hăng rủa sả bên kia.

Urbain VI (1378-1389). Dưới đời ông nầy, cung điện Giáo hoàng được tái lập tại La-mã.

Boniface IX (1389-1404). Innocent VII (1404-1406). Grégoire XII (1406-1409). Alexandre V (1409-1410).

Jean XXIII (1410-1415) thường được gọi là tên sát nhân bại hoại hơn hết từng ngồi trên ngôi Giáo hoàng; khi ông làm Hồng y Giáo chủ ở Boulogne, 200 thiếu nữ, nữ tu sĩ và thiếu phụ đã làm nạn nhân cho mối tình thầm vụng của ông. Làm Giáo hoàng, ông đã hãm hiếp nhiều trinh nữ và nữ tu sĩ; ông phạm tội ngoại tình với chị dâu mình; cũng phạm tội vĩ gian và nhiều tật xấu kinh khủng. Ông dùng tiền bạc mua chức vị Giáo hoàng và bán chức Hồng y Giáo chủ cho con cái những gia đình giàu có; lại công khai chối không có đời sau.

Martin V (1417-1431). Dưới đời ông nầy, sự ly khai giữa các Giáo hoàng chấm dứt, nhưng dân chúng Âu châu đã coi sự ly khai đó là một điều ô nhục, do đó Giáo hoàng mất uy tín,không sao cứu vãn được.

Eugène IV (1431-1447).

 

Các Giáo hoàng đương thời Phục hưng Văn nghệ (1447-1549)

Nicolas V (1447-1455) cho phép vua Bồ-đào-nha khai chiến với các dân tộc Phi châu để cướp tài sản của họ và bắt họ làm tôi mọi.

Calixte III (1455-1458). Pie II (1458-1464) có rất nhiều con không chánh thức, công khai nói về các phương pháp mình dùng để cám dỗ phụ nữ, khuyến khích thanh niên phóng túng, và thậm chí đề nghị dạy họ những cách thức phóng túng.

Paul II (1464-1471). "Nhà ông đầy dẫy vợ bé."

Sixte IV (1471-1484) phê chuẩn Tôn giáo Pháp đình thiết lập tại Tây-ban-nha; ký sắc lịnh tuyên bố rằng tiền bạc sẽ giải cứu linh hồn khỏi nơi luyện tội; bị dính díu trong cuộc mưu sát Lorenzo de Médicis và nhiều người khác chống đối chánh sách của mình; dùng chức vị Giáo hoàng để làm giàu cho mình và bà con mình; phong cho 8 người cháu làm Hồng y Giáo chủ trong lúc một số người ấy còn là thiếu nhi; phóng túng, chơi bời ngang với các hoàng đế La-mã (Sê-sa); còn về giàu có, xa hoa, thì chẳng bao lâu ông và bà con ông hơn cả các quí tộc La-mã thời xưa.

Innocent VIII (1484-1492) có 16 con do mấy phụ nữ đã có chồng; gia tăng rất nhiều chức vị trong Giáo hội, đem bán lấy những số tiền lớn; ra sắc lịnh tuyệt diệt giáo phái Vaudois và cử binh đi đánh họ; cử tên Thomas de Torquemada hung bạo làm trưởng đoàn chánh phẩm Tôn giáo Pháp đình ở Tây-ban-nha, và truyền lịnh hết thảy quan quyền phải nộp kẻ theo tà giáo cho tên ấy; cho phép bò mộng đấu với người tại công trường Thánh Phi-e-rơ, làm bội cảnh cho Savonarole chống lại sự bại hoại của Giáo hoàng như sấm sét.

Alexandre VI (1492-1503) hư hoại nhứt trong số các Giáo hoàng của thời Phục hưng Văn nghệ; phóng túng, biển lận, bại hoại; lập lên nhiều Hồng y Giáo chủ mới để lấy tiền; có một số con không chánh thức mà ông công khai thừa nhận và phong cho chức vị cao trong Giáo hội từ khi chúng còn là thiếu nhi; cùng với cha chúng, bọn con nầy hạ sát những Hồng y Giáo chủ và nhiều người khác dám cản trở họ; có một tình nhân là em gái của vị Hồng y Giáo chủ sẽ kế vị ông.

Pie III (1503). Alexandre VI đã gởi nhiều tặng phẩm cho ông nầy để ông nguôi giận về chuyện trên đây.

 

Các Giáo hoàng đương thời Luther

Jules II (1503-1513) đã mua chức vị Giáo hoàng, vì ông là Hồng y Giáo chủ giàu nhứt, thâu lợi tức rất lớn do nhiều địa phận Giám mục và nhiều bất động sản của Hội Thánh. Lúc làm Hồng y Giáo chủ, ông tuy ở độc thân, song rất phóng túng; dính líu vào nhiều vụ tranh chấp vô tận về chủ quyền trên các đô thị và tiểu quốc, nên đã duy trì và tự mình điều khiển những đạo quân đông đúc; được gọi là Giáo hoàng Chiến sĩ; cấp phát phiếu ân xá (indulgences). Đương thời Giáo hoàng nầy, Luther thăm viếng thành La-mã và kinh khủng về những điều mắt mình được thấy.

Léon XIII (1513-1521) làm Giáo hoàng khi Martin Luther khởi cuộc Cải chánh Tin Lành. Léon là con trai Lorenzo de Médicis; được phong chức Tổng Giám mục lúc mới 8 tuổi; làm Hồng y Giáo chủ lúc 13 tuổi; chưa đầy 13 tuổi, đã được cử làm 27 chức khác nhau trong Giáo hội, tức là có lợi tức rất lớn; được dạy bảo coi chức vị trong Giáo hội hoàn toàn như một nguồn lợi; trả giá để được chức vị Giáo hoàng; bán nhiều phẩm tước trong Giáo hội; hết thảy chức vị trong Giáo hội đều đem bán lấy tiền, và còn đặt ra nhiều chức vị mới nữa; cử nhiều con nít mới lên 7 tuổi làm Hồng y Giáo chủ; điều đình vô tận với các vua chúa; dùng thủ đoạn để được quyền thế đời nầy; hoàn toàn lãnh đạm đối với hạnh phước thiêng liêng của Giáo hội; duy trì triều đình xa hoa và phóng đãng nhứt Âu châu; các Hồng y Giáo chủ của ông ganh đua với vua chúa trong những cung điện huy hoàng và những cuộc hoan lạc, có rất đông tôi tớ hầu hạ; nhưng con người dâm đãng nầy tái quyết bản sắc lịnh "Unam Sanctam," trong đó có tuyên bố rằng mọi người phải đầu phục Giáo hoàng La-mã, thì mới được cứu rỗi; cấp phát phiếu ân xá để lấy những số tiền đã được ấn định; tuyên bố sự thiêu đốt kẻ theo tà giáo là do Đức Chúa Trời chỉ định.

Adrien VI (1522-1523). Clément VII (1523-1534). Paul III (1534-1549) có nhiều con không chánh thức; là kẻ thù không đội trời chung của tín đồ Tin Lành, ông đã hiến vua Charler V một đạo quân để đánh họ.

 

Giáo phái Jésuite bước vào sân khấu

Giáo hoàng đối phó với sự ly khai của phái Luther bằng Tôn Giáo Pháp Đình dưới sự điều khiển của giáo phái JÉSUITE. Đây là giáo phái do Ignace de Loyola (1491-1556), người Tây-ban-nha sáng lập, trên nguyên tắc Vâng Phục Giáo hoàng tuyệt đối và vô điều kiện. Mục đích của họ là chiếm lại những lãnh thổ đã bị tín đồ Tin Lành cùng người Hồi giáo chiếm mất, và chinh phục cả thế giới ngoại đạo cho Giáo hội Công giáo La-mã. Mục đích tối cao của họ là tiêu diệt tà giáo (tức là nghĩ điều chi khác với điều Giáo hoàng bảo phải nghĩ). Để đạt tới mục đích ấy, bất cứ phương pháp nào cũng là chánh đáng, kể cả sự lừa gạt, hủ hoại, tật xấu và mưu sát nữa. Khẩu hiệu của họ là :"Để Đức Chúa Trời được vinh hiển nhiều hơn!" Phương pháp của họ là: Trường học, đặc biệt tìm cách dạy dỗ con cái của giới cầm quyền; trong bất cứ trường học nào, họ cũng nhằm mục đích tuyệt đối cai trị học trò. Sự xưng tội, nhứt là đối với các vua chúa và nhà cầm quyền hành chánh, dung túng cho họ phạm đủ mọi điều hư xấu và trọng tội, cốt để được ân huệ của họ. Võ lực, thuyết phục các nhà cầm quyền thi hành những bản án của Tôn giáo Pháp đình. Tại Pháp, họ chịu trách nhiệm về cuộc tàn sát St-Barthélemy, về sự hủy bỏ sắc chỉ Nantes khoan dung tôn giáo, và về cuộc cách mạng Pháp. Tại Tây-ban-nha, Hòa-lan, Nam bộ nuớc Đức, xứ Bohême, Áo, Ba-lan và nhiều nước khác, họ chỉ huy cuộc tàn sát không biết bao nhiêu dân chúng. Bởi những phương pháp ấy, họ chận đứng cuộc Cải chánh ở Nam Âu, và thật đã cứu chế độ Giáo hoàng khỏi tiêu diệt.

* * *

Sử Ký Hội Thánh 12

Danh Sách Các Giáo Hoàng Và Chế Độ Giáo Hoàng 7

 

Những Giáo hoàng chống lại cuộc Cải chánh

Jules III (1550-1555). Marcel II (1555). Paul IV (1555-1559) thiết lập Tôn giáo Pháp đình La-mã. Pie IV (1559-1565). Pie V (1566-1572). Grégoire XIII (1572-1585) cử hành lễ Mi-sa trọng thể, kèm theo sự cảm tạ và vui chơi, để mừng cuộc tàn sát St-Barthélemy; thúc giục vua Philippe II khai chiến với nước AnhSixte V (1585-1590) ra sắc chỉ tuyên bố phát hành bản Kinh Thánh "Vulgate"; bản nầy có 2000 chỗ dịch sai. Urbain VII (1590). Grégoire XIV (1590-1591). Innocent IX (1591). Clément VIII (1592-1605). Léon XI (1605). Paul V (1605-1621). Grégoire XV (1621-1623). Urbain VIII (1623-1644), với sự giúp đỡ của giáo phái Jésuite, tiêu diệt tín đồ Tin Lành ở xứ Bohême.

 

Các Giáo hoàng kim thời

Innocent X (1644-1655). Alexandre VII (1655-1667). Clément IX (1667-1669). Clément X (1670-1676). Innocent XI (1676-1689). Alexandre VIII (1689-1691). Innocent XII (1691-1700). Clément XI (1700-1721) tuyên bố rằng phải có ông phê chuẩn, thì các vua mới trị vì được; công bố một sắc lịnh chống lại sự tự do đọc Kinh Thánh. Innocent XIII (1721-1724). Bénédict XIII (1724-1730). Clément XII (1730-1740). Bénédict XIV (1740-1758). Clément XIII (1758-1769). Clément XIV (1769-1774) bãi bỏ hội Jésuite "cho đến đời đời."

Pie VI (1775-1799). Pie VII (1800-1820) khôi phục dòng Jésuite bằng một sắc lịnh "đời đời bất khả di dịch và bất khả xâm phạm." Thật là một hành động kỳ lạ! Một Giáo hoàng "vô ngộ" khôi phục cái mà một Giáo hoàng "vô ngộ" khác vừa mới bãi bỏ "cho đến đời đời!" Pie VII cũng công bố một sắc lịnh rằng "các Hội Xuất bản Kinh Thánh là một dụng cụ của ma quỉ để phá hoại nền tảng tôn giáo."

Léon XII (1821-1829) lên án sự tự do tín ngưỡng, sự khoan dung tôn giáo, các Hội Xuất bản Kinh Thánh, và sự phiên dịch Kinh Thánh; tuyên bố rằng "người nào không gia nhập Giáo hội Công giáo La-mã, thì dầu sống một đời không chỗ trách được về mọi phương diện tới mực nào, cũng không được hưởng sự sống đời đời."

Pie VIII (1829-1830) mạt sát sự tự do tín ngưỡng, các Hội Xuất bản Kinh Thánh, và Hội Tam điểm (Franc-maconnerie).

Grégoire XVI (1831-1846) hăng hái binh vực sự vô ngộ của Giáo hoàng; lên án các Hội Xuất bản Kinh Thánh của Hội Thánh Tin Lành.

Pie IX (1846-1878) mất các lãnh thổ của Giáo hoàng; ký sắc lịnh tuyên bố Giáo Hoàng Vô Ngộ; công bố quyền dùng võ lực để tiểu trừ tà giáo; lên án sự phân rẽ giữa Giáo hội và nhà nước; truyền lịnh cho hết thảy tín đồ Công giáo chân chánh phải vâng lời Đầu của Giáo hội hơn là vâng phục các quan quyền hành chánh; mạt sát sự tự do tín ngưỡng, tự do thờ phượng, tự do ngôn luận và tự do báo chí; tuyên bố bà Ma-ri đã được thai dựng không mắc nguyên tội (Immaculée Conception) và thần thánh hóa bà Ma-ri; khuyến khích sự mê tín tôn sùng các thánh tích (reliques); lên án các Hội Xuất bản Kinh Thánh, và tuyên bố rằng đạo Tin Lành (Protestantisme) không phải là một hình thức Cơ-đốc giáo;" tuyên bố rằng "hết thảy tín điều của Giáo hội Công giáo La-mã là do Đấng Christ truyền phán qua các đại diện của Ngài trên mặt đất."

 

Sự vô ngộ của Giáo hoàng

Trải qua 600 năm, trong văn chương của đạo Đấng Christ không hề bày tỏ ý niệm rằng Giáo hoàng vô ngộ. Ý niệm ấy được nêu lên khi các Giáo lịnh (décrétales) giả mạo xuất hiện; rồi nó nảy nở khi Giáo hoàng quả quyết mở các cuộc viễn chinh của Thập tự quân và khi Giáo hoàng xung đột với các hoàng đế. Từ Innocent III trở đi, có nhiều Giáo hoàng binh vực sự vô ngộ đó. Nhưng các Giáo hội nghị PiseConstance và Bâle biểu quyết minh bạch rằng Giáo hoàng phải phục tòng Giáo hội nghị. Năm 1854, Giáo hoàng Pie IX "dùng quyền hành cao cả của mình và không có sự hợp tác của một Giáo hội nghị," đã công bố giáo lý về bà Ma-ri được thai dựng không mắc nguyên tội, cốt để dò ý giới Công giáo La-mã về vấn đề Giáo hoàng vô ngộ. Giáo lý ấy được nhìn nhận, nên ông dạn dĩ triệu tập Giáo hội nghị Vatican (1870 với mục đích rõ rệt, là để họ tuyên bố ông vô ngộ; và do sự điều khiển khéo léo của ông, họ đã tuyên bố như vậy. Sắc lịnh công bố "Đức Chúa Trời đã khải thị" rằng khi Giáo hoàng nói "với tư cách thầy" (ex cathedra), thì ông "có sự vô ngộ để giải thích các giáo lý về đức tin và luân lý," và "các lời giải thích ấy tự nó không thể sửa đổi, lại không cần phải được Giáo hội ưng chuẩn." Như vậy, ngày nay, Giáo hoàng Vô Ngộ vì Giáo hội nghị Vatican đã theo lịnh ông mà bỏ phiếu nhìn nhận ông vô ngộ. Giáo hội Đông phương cho đó là sự phạm thượng tột bậc của chế độ Giáo hoàng.

 

Mất quyền hành đời nầy

Kể từ năm 754, các Giáo hoàng đã cầm quyền hành chánh trong một nước gọi là "Lãnh thổ của Giáo hoàng" gồm một phần lớn nước Ý, lấy La-mã làm thủ đô; nhiều Giáo hoàng đã lo mở mang biên giới, sự giàu có và thế lực của nước nầy hơn là lo cho Giáo hội được hạnh phước thiêng liêng. Họ thường dùng địa vị thiêng liêng của mình, là Đầu của Giáo hội, để bành trướng thế lực đời nầy. Sự bại hoại của Giáo hoàng hiển nhiên trong nền cai trị phần đời cũng như trong nền cai trị phần thiêng liêng của họ. Sự cai trị tồi tệ của Giáo hoàng đã trở thành ngạn ngữ: quan chức vụ lợi, trọng tội thường có, đường phố bẩn thỉu, du khách bị yêu sách tiền bạc, đúc tiền giả và xổ số. Pie IX cai trị thành La-mã với sự yểm trợ của 10 ngàn lính Pháp. Khi chiến tranh bùng nổ giữa Pháp và Đức (1870), những lính nầy bị triệu hồi; Victor-Emmanuel, vua Ý bèn chiếm lấy thành, và sáp nhập các lãnh thổ Giáo hoàng vào nước Ý. Dân chúng bỏ 133.648 phiếu chống 1507, để chuyển thành La-mã từ Giáo hoàng qua chánh phủ Ý. Như vậy, Giáo hoàng chẳng những mất nước trần gian, song chính ông trở thành thần dân của một chánh phủ khác; đó là sự nhục nhã tột bậc cho một người vẫn tự nhận là cai trị hết thảy vua chúa. Năm 1929, Mussolini đã khôi phục quyền hành đời nầy của Giáo hoàng, nhưng thâu hẹp nhiều lắm. Dầu thành Vatican chỉ gồm có 40 mẫu tây, nhưng Giáo hoàng lại được làm quân vương, không phục dưới quyền hành trần gian nào hết.

 

Các Giáo hoàng thời nay

Léon XIII (1878-1903) tự nhận là được chỉ định làm Đầu hết thảy vua chúa, và giữ địa vị Đức Chúa Trời Toàn năng trên mặt đất; nhấn mạnh sự vô ngộ của Giáo hoàng; tuyên bố Tin Lành là "kẻ thù của Danh Đấng Christ;" mạt sát "phong tục nước Mỹ" (américanisme); gọi Hội Tam điểm là "nguồn gốc mọi tội ác;" quả quyết rằng phương pháp hợp tác duy nhất là hoàn toàn đầu phục Giáo hoàng La-mã.

Pie X (1903-1914) tố cáo các thủ lãnh cuộc Cải chánh là "kẻ thù của Thập tự giá Đấng Christ."

Bénédict XV (1914-1922). Pie XI (1922-1939) tái quyết Giáo hội La-mã Công giáo là Giáo hội duy nhứt của Đấng Christ, và không thể nào lại thống nhứt giới tín đồ Đấng Christ, trừ khi hết thảy phục tòng Giáo hoàng ở La-mã.

Pie XII (1939-1958).(1)

* * *

Sử Ký Hội Thánh 13

Danh Sách Các Giáo Hoàng Và Chế Độ Giáo Hoàng 8

 

Tóm tắt

Chế độ Giáo hoàng thiết lập tại Ý-đại-lợi.-- Nó dấy lên từ tàn tích của đế quốc La-mã, nhơn Danh Đấng Christ mà chiếm ngôi các Sê-sa. Nó là sự khôi phục hình ảnh đế quốc La-mã, và nó thừa hưởng tinh thần đế quốc ấy; nó là "thần linh của đế quốc La-mã đã sống lại và mặc áo đạo Đấng Christ." Hầu hết các Giáo hoàng là người Ý.

Các phương thức của chế độ Giáo hoàng.-- Nó lên cầm quyền nhờ uy tín của thành La-mã, nhờ Danh Đấng Christ, nhờ những cuộc liên minh chánh trị khôn lanh (như với dân Francs và Charlemagne), nhờ sự dối gạt (như các giáo lịnh giả mạo), nhờ VÕ L_C (quân đội riêng và quân đội của các vua phục tòng Giáo hoàng). Bởi võ lực và lưu huyết (như Tôn giáo Pháp đình), chế độ nầy đã duy trì quyền lực của mình.

Lợi tức của Giáo hoàng.-- Trải qua phần lớn lịch sử của chế độ Giáo hoàng, bởi bán chức vị trong Giáo hội và bán phiếu ân xá lấy tiền một cách trắng trợn, chế độ ấy đã thâu huê lợi rất lớn, đến nỗi có thể Nhơn Danh Đấng Christ Khiêm Nhường mà duy trì triều đình xa hoa, huy hoàng bậc nhất Âu-châu gần suốt cả lịch sử của nó.

Tâm tánh của các Giáo hoàng.-- Một vài Giáo hoàng là người tốt; một số hư xấu khôn tả; hầu hết mải miết theo đuổi quyền thế đời nầy. Đức Chúa Trời đã có các thánh đồ của Ngài trong Giáo hội Công giáo, nhưng phần nhiều họ ở Ngoài điện VATICAN. Phần nhiều "đại diện thật của Đấng Christ" chỉ là các thánh đồ ấy.

Các Giáo hoàng tự nhận là gì? Mặc dầu tâm tánh của phần đông các Giáo hoàng, mặc dầu các phương thức của họ, mặc dầu sử chép các Giáo hoàng đuổi theo đời nầy và làm đổ nhiều máu, nhưng các "Đức Thánh Cha" nầy vẫn quả quyết rằng họ là "đại diện của Đấng Christ," "vô ngộ," "giữ địa vị Đức Chúa Trời Toàn năng trên mặt đất"," và ai muốn được cứu rỗi, thì cần phải vâng phục họ.

Chế độ Giáo hoàng đối với Kinh Thánh.-- Justin Martyr, Jérôme và Chrysostome đã khuyên giục đọc Kinh Thánh. Augustin coi sự phiên dịch Kinh Thánh là phương pháp hạnh phước để truyền bá Lời Đức Chúa Trời giữa các nước. Grégoire I đã khuyến nghị đọc Kinh Thánh, không hạn chế chút nào. Nhưng các Giáo hoàng về sau có một thái độ khác hẳn. Hildebrand truyền lịnh cho người Bohémiens đừng đọc Kinh Thánh. Innocent III cấm nhân dân đọc Kinh Thánh bằng tiếng mẹ đẻ (đối với quần chúng, Kinh Thánh tiếng la-tinh là một Quyển Sách đóng lại). Grégoire IX cấm những người không có phẩm chức Giáo hội không được có Kinh Thánh và dẹp bỏ các bản dịch Kinh Thánh. Các bản dịch Kinh Thánh ở giữa giáo phái Albigeois và giáo phái Vaudois đã bị đốt đi, và ai có các bản ấy cũng bị thiêu sống. Paul IV cấm giữ các bản dịch Kinh Thánh nếu không có phép của Tôn giáo Pháp đình. Dòng Jésuite xui giục Clément XI lên án sự đọc Kinh Thánh của những người không có phẩm chức Giáo hội. Léon XIIPie VIIIGrégoire XVI và Pie IX đều lên án các Hội Xuất bản Kinh Thánh. Ảnh hưởng của Giáo hoàng đã làm cho Kinh Thánh bị loại khỏi các học đường. Trong các nước Công giáo, Kinh Thánh là Quyển Sách không được ai biết đến.

Chế độ Giáo hoàng và nhà nước.-- Hildebrand tự xưng là "bá chủ của các vua chúa." Innocent III tự xưng là "vua cao cả của thế giới," và đòi quyền truất phế các vua. Pie IX lên án sự phân rẽ Giáo hội với nhà nước, và truyền cho hết thảy tín đồ Công giáo chân chánh phải vâng phục Đầu của Giáo hội hơn là vâng phục các quan quyền hành chánh. Léon XIII tự nhận là "Đầu của hết các bậc cầm quyền." Khi Giáo hoàng làm lễ đăng quang, thì họ đặt đại lễ quan lên đầu ông với những lời nầy: "Ngài là Cha của các vua chúa, là kẻ cai trị thế giới, và là đại diện của Đấng Christ." Giáo hội La-mã chánh thức dạy rằng trong trường hợp có cuộc xung đột, thì tín đồ Công giáo phải vâng phục Giáo hoàng hơn là vâng phục Tổ quốc họ.

Chế độ Giáo hoàng và Giáo hội.-- Chế độ Giáo hoàng không phải là Giáo hội, nhưng là một guồng máy chính trị chiếm quyền kiểm soát Giáo hội; bởi những đặc quyền tự nhận lấy, chế độ đó xen vào giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài, và mục đích của nó xưa nay là bắt dân chúng làm tôi mọi cho mình.

Chế độ Giáo hoàng và sự khoan dung tôn giáo.-- Giáo hoàng Clément VII tuyên bố rằng "sắc chỉ Nantes khoan dung tôn giáo, do đó mọi người được tự do tín ngưỡng, là điều đáng rủa sả hơn hết trên thế giới." Innocent X và những người kế vị ông đã lên án, chối bỏ, thủ tiêu và phản đối các điều khoản khoan dung tôn giáo trong hiệp ước Wesphalie, ký kết năm 1648. Léon XII lên án sự tự do tín ngưỡng. Pie VIII mạt sát sự tự do tín ngưỡng. Pie IX tỏ tường lên án sự tự do tín ngưỡng và khoan dung tôn giáo. Léon XIII phê chuẩn sắc lịnh của Pie IX. Dầu các linh mục Công giáo ở nước chúng ta(1) có thể nói: "Khoan dung tôn giáo" tới mực nào, nhưng luật pháp chánh thức và "vô ngộ" của Giáo hội Công giáo chống lại sự khoan dung đó. Người Công giáo CHỈ ủng hộ sự khoan dung tôn giáo tại những nước họ bị thiểu số. Ở các nước Công giáo, chẳng bao giờ họ khoan dung tôn giáo, trừ khi bị bắt buộc. Chế độ Giáo hoàng đã tranh đấu với sự tự do tín ngưỡng từng bước một. Họ tự ban cho mình sự khoan dung tôn giáo, nhưng ở nơi nào họ cầm quyền, thì không chịu cho kẻ khác được sự khoan dung ấy.

Thiên cơ trong chế độ Giáo hoàng.-- Có thể rằng theo thiên cơ của Đức Chúa Trời, chế độ Giáo hoàng đã dùng vào một việc đương thời Trung cổ, là cứu Tây-âu khỏi sa vào tình trạng hỗn độn, cùng hòa hợp hai nền văn minh La-mã và Đức. Giả định rằng Giáo Hội không hề trở thành một tổ chức Quốc Gia, nhưng đã tránh không đuổi theo quyền thế đời nầy, và chỉ chuyên chú vào chánh sách Nguyên Thủy, là dắt đưa tội nhơn đến cùng Đấng Christ và dạy họ đi theo đường lối của Ngài, -- thì có thể Một Ngàn Năm Hòa Bình đã thực hiện thay vì Những Thời Kỳ Hắc Ám.

Lịch sử chế độ Giáo hoàng đã được viết ra làm bối cảnh cho cuộc Cải chánh, vì tôi tin rằng chúng ta cần biết nguyên do Phong trào Tin Lành và các nền tảng lịch sử của đức tin Hội Thánh Tin Lành . Một vài điều thuật lại ở đây dường như không tin được. Ta dường như không thể tưởng tượng rằng loài người có thể lấy đạo Đấng Christ mà biến thành một guồng máy chánh trị tàn nhẫn để leo lên cầm quyền thế giới. Tuy nhiên, mọi sự trình bày ở đây đều có thể được soát lại bằng cách tham chiếu với bất cứ pho sử ký Hội Thánh nào đầy đủ hơn.

* * *

Sử Ký Hội Thánh 14

Các Bậc Tiền Khu Của Cuộc Cải Chánh

Giáo phái Pétrobusien, do Pierre de Bruys, môn đệ của Abelard, sáng lập năm 1110 tại Pháp, không công nhận lễ Mi-sa; họ cũng quả quyết rằng Tiệc Thánh là một lễ kỷ niệm, và các Mục sư đáng phải cưới vợ.

Arnaud de Brascia, môn đệ của Abelard, năm 1155, giảng rằng Hội Thánh không nên có tài sản, quyền hành chánh thuộc về những người không có phẩm chức Hội Thánh, và thành La-mã phải được giải phóng khỏi quyền cai trị của Giáo hoàng. Ông bị thắt cổ chết theo lời yêu cầu của Giáo hoàng Adrien IV.

Giáo phái Albigeois, hoặc Cathares, ở miền Nam nước Pháp, miền Bắc Tây-ban-nha, và miền Bắc Ý-đại-lợi. Giảng chống lại hành vi hủ hoại của các thầy cả, sự thăm viếng các nơi thánh, sự thờ lạy các thánh và ảnh tượng; hoàn toàn không công nhận giới phẩm chức Giáo hội và các điều họ tự nhận; chỉ trích tình trạng Giáo hội; phản đối những yêu sách của Giáo hội La-mã; dùng Kinh Thánh rất nhiều; sống cuộc đời từ bỏ mình và rất sốt sắng đối với sự thanh khiết của tâm hồn. Khoảng năm 1167, giáo phái nầy có lẽ gồm đa số dân chúng miền Nam nước Pháp. Khoảng năm 1200, họ rất đông đúc ở miền Bắc Ý-đại-lợi. Năm 1208, Giáo hoàng Innocent III truyền lịnh mở một cuộc viễn chinh chống họ; theo sau đó, có một cuộc chiến tranh tuyệt diệt đẫm máu, hầu như độc nhất vô song trong lịch sử; lưỡi gươm đi qua hết thị trấn nầy đến thị trấn kia, dân chúng bị tàn sát không phân biệt tuổi tác, nam, nữ. Năm 1229, Tôn giáo Pháp đình được thiết lập, và trong vòng 100 năm, giáo phái Albigeois đã hoàn toàn bị trừ khử.

Giáo phái Vaudois ở miền Nam nước Pháp và miền Bắc Ý-đại-lợi. Giống như giáo phái Albigeois, nhưng không phải là một. Năm 1176, Waldo, một thương gia giàu có ở thành Lyon, miền Nam nước Pháp, đem tài sản phân phát cho người nghèo, rồi đi giảng đạo. Ông phản đối sự tiếm vị và phóng đãng của giới phẩm chức Giáo hội; không thừa nhận sự giảng Tin Lành là độc quyền của giới ấy; không nhìn nhận lễ Mi-sa, sự cầu nguyện cho kẻ chết và nơi luyện tội; dạy rằng Kinh Thánh là mực thước duy nhất cho đức tin và đời sống. Sự giảng dạy của Giáo phái nầy khiến dân chúng nôn nả ham thích đọc Kinh Thánh. Giáo phái nầy lần lần bị Tôn giáo Pháp đình trừ diệt; duy ở thung lũng dãy núi Alpes, về phía Tây nam thành Turin, ta còn thấy họ; đó là giáo phái duy nhất thời Trung cổ còn sống sót, để kể lại truyện tích anh dũng chịu đựng các cơn bắt bớ. Ngày nay, giáo phái nầy là đoàn thể Tin Lành quan trọng nhất ở nước Ý.

Pétrarque (1304-1374), Lãnh tụ trọng yếu của cuộc Phục hưng Văn nghệ; nói rằng Avignon, trú sở của các Giáo hoàng, là "cái rãnh của địa ngục."

Jean Wyclif (1324-1384), giáo sư tại thành phố Oxford, nước Anh. Giảng chống lại sự đô hộ thiêng liêng của giới thầy cả và quyền hành của Giáo hoàng; phản đối sự có các Giáo hoàng, Hồng y Giáo chủ, Giáo trưởng và tu sĩ; công kích giáo lý về sự biến thể (transsubstantiation) và sự xưng tội với thầy cả; binh vực dân chúng có quyền đọc Kinh Thánh; dịch Kinh Thánh ra tiếng Anh. Những người theo ông gọi là Lollards.

Jean Huss (1369-1415). Đại học Viện trưởng tại thành Prague, xứ Bohême. Ông là môn đệ của Wiclif, và các tác phẩm của Wiclif đã được đem vào xứ Bohême. Ông trở thành một nhà Truyền đạo can đảm, chẳng sợ hãi ai; công kích thói hư tật xấu của giới phẩm chức Giáo hội và các sự hư hoại của Giáo hội; hết sức hăng hái lên án sự bán phiếu ân xá; không thừa nhận nơi luyện tội, sự thờ lạy các thánh, và sự hành lễ bằng ngoại ngữ; tôn cao Kinh Thánh lên trên các tín điều và mạng lịnh của Giáo hội. Ông bị thiêu sống trên giàn, và các môn đệ của ông, phần lớn là dân xứ Bohême, đã bị tiêu diệt gần hết trong một cuộc viễn chinh theo lịnh của Giáo hoàng.

Savonarole (1452-1498) ở thành Florence, nước Ý. Giảng dạy như một đấng tiên tri Hê-bơ-rơ, cho những đoàn dân đông đúc kéo đến nhà thờ của ông; ông chống lại sự phóng đãng và tội lỗi của thành nầy, cùng thói hư tật xấu của Giáo hoàng. Dân thành nầy ăn năn và cải cách. Nhưng Giáo hoàng Alexandre VI tìm đủ cách bịt miệng nhà Truyền đạo công bình nầy, thậm chí thử hối lộ ông bằng cách hứa phong cho ông làm Hồng y Giáo chủ, nhưng vô ích. Ông bị treo cổ chết giữa đại công trường thành Florence 19 năm trước khi Martin Luther niêm yết 95 luận đề.

Giáo phái Anabaptiste xuất hiện giữa thời Trung cổ, ở nhiều nước Âu-châu, dưới nhiều danh hiệu khác nhau, họp thành những nhóm độc lập, và đại diện cho nhiều giáo lý khác nhau. Nhưng nói chung, họ hăng hái chống lại giới phẩm chức Giáo hội, không thừa nhận sự làm lễ báp-têm cho trẻ sơ sanh, chuyên tâm học Kinh Thánh, và chủ trương Giáo hội phải tuyệt đối phân rẽ với nhà nước. Đương thời Cải chánh, họ rất đông đúc ở Đức, Hòa-lan, Thụy-sĩ, và trường cửu hóa những tư tưởng đã lưu truyền từ bao nhiêu thế hệ trước. Nói chung, họ là những người lặng lẽ và thật sùng kính Chúa, nhưng đã bị bắt bớ kịch liệt, nhất là ở Hòa lan.

Cuộc Phục hưng Văn nghệ đã thực hiện, một phần như là kết quả do các cuộc Viễn chinh của Thập tự quân, cuộc Phục hưng ấy, cùng áp lực của người Thổ-nhĩ-kỳ và sự suy vong của thành Constantinople, đã giúp cho phong trào Cải chánh. Người ta sanh ra ham mến những tác phẩm cổ điển, và bỏ ra bao nhiêu số tiền rất lớn để thâu thập các bản thảo và sáng lập thư viện. Chính lúc đó, người ta sáng chế được máy in, và kết quả có rất nhiều tự điển, sách văn phạm, bản dịch và sách giải nghĩa. Người ta nghiên cứu Kinh Thánh nguyên văn. "Vì lại biết nguồn gốc của đạo Đấng Christ, nên người ta thấy chỗ khác nhau tột bậc giữa sự giản dị nguyên thủy của Tin Lành và sự giả tạo của giới phẩm chức Giáo hội vẫn tự nhận là xây dựng trên Tin Lành ấy." "Sở Dĩ Có Cuộc Cải Chánh Là Vì Tâm Trí Người Ta Được Tiếp Xúc Thẳng Với Kinh Thánh." Kết quả là tâm trí loài người được giải phóng khỏi quyền hành của giới thầy cả và của Giáo hoàng.

Erasme (1466-1536) là học giả tiếng tăm nhứt và người viết sách được hoan nghinh nhứt đương thời Cải chánh. Dục vọng lớn lao của ông là giải phóng người ta khỏi những ý niệm giả dối về tôn giáo; ông cho rằng phương pháp tốt nhứt để làm việc ấy là quay về với Kinh Thánh. Bản Tân Ước tiếng Hi-lạp của ông hiến cho các dịch giả một bản văn rất đúng để phiên dịch. Ông là người chỉ trích Giáo hội Công giáo La-mã rất kịch liệt, và đặc biệt ưa thích chế giễu "bọn người ô uế bận áo thánh." Ông giúp cuộc Cải chánh rất nhiều, nhưng không hề gia nhập phong trào ấy.

Tình hình. Sự bất mãn ngày càng lan rộng trước sự hư hoại của Giáo hội và của giới phẩm chức Giáo hội. Dân chúng đã hóa ra bướng bỉnh dưới sự tàn khốc của Tôn giáo Pháp đình. Các nhà cầm quyền hành chánh đã chán ghét sự Giáo hoàng can thiệp vào các công tác của chánh phủ. Tây-âu xao xuyến dưới hệ thống phẩm chức Giáo hội bắt họ làm tôi mọi; vậy, "khi tiếng kèn của Luther vang dậy, thì nước Đức, nước Anh, xứ Tô-cách-lan và nhiều nước khác giựt mình vùng lên, chẳng khác gì những người khổng lồ đang ngủ thức dậy."

* * *

Sử Ký Hội Thánh 15

Cuộc Cải Chánh

Martin Luther (1483-1546) đứng đầu hàng vĩ nhân của mọi thời đại, sau Đức Chúa Jêsus và Phao-lô. Ông lãnh đạo thế giới trong cuộc nổi dậy giành tự do, thoát khỏi chế độ chuyên chế hơn hết trong lịch sử. "Ông là nhà sáng lập nền văn minh Tin Lành." Ông sanh năm 1483, tại thành Eisleben, trong một gia đình nghèo. Năm 1501, ông vào trường Đại học Erfurt để học luật khoa. Ông là "một sanh viên xuất sắc, hay nói chuyện và tranh luận, rất có tài xã giao và âm nhạc." Ông tốt nghiệp sau một thời gian hết sức ngắn ngủi. Năm 1506, ông thình lình quyết định vào tu viện. Là một tu sĩ gương mẫu và rất sùng đạo, ông đã kiêng ăn và tự khảo đả đủ cách; ông cũng tự đặt ra nhiều cách khảo đả mới mẻ. Theo lời ông nói, suốt hai năm ông chịu "nỗi thống khổ không bút nào tả xiết." Một ngày kia trong năm 1508, đang khi đọc thơ Rô-ma, ông thình lình được soi sáng và được bình an: "Người công bình sẽ sống bởi đức tin " (Rô-ma 1:17). Rốt lại, ông thấy rằng phải được cứu rỗi bởi tin cậy Đức Chúa Trời qua Đấng Christ, chớ chẳng phải bởi nghi lễ, phép bí tích và phép khổ hạnh của Giáo hội. Sự thấy nầy đã thay đổi cả cuộc đời ông và Cả Dòng Lịch Sử."Dầu sự phát minh của ông làm cho một Giáo hội dưới quyền thầy cả không cần thiết nữa, nhưng ông không lập tức nhìn biết như vậy." Ông vẫn còn chịu nhận mọi tục lệ của Giáo hội, lễ Mi-sa, thánh tích, phiếu ân xá, sự hành hương (pèlerinage) và quyền hành của Giáo hoàng. Năm 1508, ông làm giáo sư tại trường Đại học Wittenberg, và cứ giữ địa vị ấy cho đến khi qua đời, năm 1546. Năm 1511, ông tới thành La-mã, và dầu thất kinh trước sự bại hoại, hư xấu của triều đình Giáo hoàng, ông cũng vẫn nhìn nhận quyền hành của Giáo hội. Ông trở về Wittenberg, và các bài ông giảng về Kinh Thánh bắt đầu hấp dẫn các sanh viên từ mọi phương nước Đức.

Phiếu ân xá.-- Việc Tetzel bán phiếu ân xá là cơ hội cho Luther ly khai với Giáo hội La-mã. Phiếu ân xá là bản giảm nhẹ sự đau đớn ở nơi luyện tội, tức là tha cho khỏi bị hình phạt vì tội lỗi. Theo giáo lý của Giáo hội La-mã, thì nơi luyện tội gần giống như địa ngục, duy nó không kéo lâu dài như vậy; mọi người phải trải qua nơi luyện tội. Nhưng Giáo hoàng tự nhận có quyền giảm bớt hoặc miễn hết sự đau đớn ấy, và đặc quyền ấy thuộc riêng về Giáo hoàng. Phiếu ân xá bắt đầu đương thời các Giáo hoàng Pascal I (817-824) và Jean VIII (872-882). Người ta thấy phiếu ân xá của Giáo hoàng có lợi bội phần, và chẳng bao lâu, nó được sử dụng cùng khắp. Họ cấp phiếu ân xá để xui giục người ta dự cuộc viễn chinh của Thập-tự-quân, dự cuộc chiến tranh chống kẻ theo tà giáo, hoặc chống một vua nào mà Giáo hoàng muốn trừng phạt; cũng cấp cho các chánh thẩm Tôn giáo Pháp đình, hoặc kẻ vác củi để thiêu một người theo tà giáo, hoặc kẻ hành hương tại La-mã, hoặc kẻ đã dự vào một công cuộc công, tư của Giáo hoàng; hoặc cũng ĐEM BÁN LẤY TIỀN.

Năm 1476, Giáo hoàng Sixte VI là người thứ nhứt áp dụng phiếu ân xá cho những linh hồn đã ở nơi luyện tội. Các phiếu ân xá đã được bao thầu và đem bán lẻ. Như vậy, "bán đặc quyền phạm tội" trở thành một nguồn lợi tức chánh yếu của Giáo hoàng. Năm 1517, Jean Tetzel trải qua nước Đức, bán những chứng chỉ có Giáo hoàng ký tên, hiến sự tha thứ hết tội lỗi cho kẻ mua và bạn bè họ, không cần phải xưng tội, ăn năn, khổ hạnh, hoặc được thầy cả xá miễn cho. Hắn nói với dân chúng rằng: "Ngay khi đồng tiền của các ngươi kêu keng trong thùng nầy, thì linh hồn của bạn hữu các ngươi được từ nơi luyện tội thẳng tới Thiên đàng." Luther lấy thế làm kinh tởm.

95 luận đề.-- Ngày 31-10-1517, tại cửa nhà thờ WittenbergLuther niêm yết 95 luận đề, hầu hết liên quan đến phiếu ân xá, nhưng cốt là đả kích quyền hành của Giáo hoàng. Đó chỉ là lời rao rằng ông sẵn lòng tranh luận các vấn đề ấy tại trường Đại học. Nhưng khắp nước Đức, người ta hăm hở tìm kiếm bản in các luận đề ấy. Nó tự chứng tỏ là "cái tàn lửa làm cho cả Âu-châu bùng cháy." Truyền đơn nầy theo sau truyền đơn kia, bằng tiếng La-tinh cho bậc trí thức, và bằng tiếng Đức cho thường dân. Khoảng năm 1520, Luther đã trở nên người được dân chúng hoan nghinh nhứt nước Đức.

Luther bị dứt phép thông công.-- Năm 1520, Giáo hoàng ra sắc lịnh dứt phép thông công Luther, và tuyên bố rằng nếu trong vòng 60 ngày, ông không chịu rút lời, thì sẽ phải chịu "sự hình phạt dành cho kẻ theo tà giáo" (tức là tử hình). Khi Luther nhận được sắc lịnh ấy, ông đã công khai đốt nó đi (10-12-1520). Ông Nichols nói rằng: "Ngày ấy, một thời đại mới trong lịch sử đã mở đầu."

Nghị nội Worms (1521). Luther bị Charles V, hoàng đế của đế quốc La-mã thánh (đương thời ấy gồm Đức, Tây-ban-nha, Hòa-lan và Áo), đòi phải ứng hầu trước nghị hội Worms. Trước mặt các người quyền cao chức trọng của đế quốc và Giáo hội họp lại, ông được lịnh phải rút lời. Ông đáp rằng mình không thể rút lời chi hết, trừ ra đối với những cái gì Kinh Thánh hoặc lý trí chứng rõ là sai. Ông nói: "Tôi đứng đây; tôi không thể làm chi khác; nguyện Đức Chúa Trời giúp đỡ tôi!" Ông bị lên án; nhưng rất nhiều vị vương hầu Đức là bạn hữu ông, nên sắc lịnh lên án ông không thể thi hành. Một người bạn giấu ông đi chừng một năm; rồi ông trở về Wittenberg để tiếp tục công việc giảng thuyết và viết sách. Ngoài nhiều việc khác, ông còn dịch Kinh Thánh ra tiếng Đức; bản dịch nầy đã "thiêng liêng hóa nước Đức và tạo nên tiếng Đức."

Giáo hoàng khai chiến với tín đồ Tin Lành nước Đức. Nước Đức gồm rất nhiều tiểu quốc, mỗi tiểu quốc do một vị vương hầu cai trị. Nhiều vị vương hầu ấy và cả nước họ đã theo chánh nghĩa của Luther. Khỏang năm 1540, cả miền Bắc nước Đức đã theo giáo phái Luthérien. Họ được lịnh trở lại "ràn chiên" La-mã. Nhưng họ lập khối liên minh Smalcald để tự vệ. Giáo hoàng Paul III bèn thúc giục hoàng đế Charles V tiến đánh họ, và cũng hiến cho hoàng đế một đạo quân. Giáo hoàng tuyên bố cuộc chiến tranh nầy là một cuộc viễn chinh của Thập-tự-quân (croisade), và hứa ban phiếu ân xá cho mọi người dự vào đó. Chiến tranh kép dài từ 1546 đến 1555, và kết liễu bằng hòa ước Augsbourg, do đó giáo phái Luthérien được thừa nhận là hợp pháp. Giáo hoàng gây cuộc chiến tranh nầy với mục đích đánh cho giáo phái Luthérien phải đầu phục mình. Ông là người xâm lược, còn giáo phái Luthérien tự vệ.

Danh hiệu "Protestant." Nghị hội Spire (năm 1529), tại đó người Công giáo La-mã chiếm đa số, qui định rằng người Công giáo được phép giảng dạy đạo của họ ở các tiểu quốc thuộc Đức theo giáo phái Luthérien, nhưng cấm giáo phái Luthérien giảng dạy ở các tiểu quốc thuộc Đức theo Công giáo. Các vương hầu theo giáo phái Luthérien chánh thức phản đối quyết nghị ấy, và từ đó được gọi là "Protestant" (Kẻ phản đối). Danh hiệu nầy nguyên thủy áp dụng cho giáo phái Luthérien, nhưng nay quen áp dụng cho những người phản đối sự tiếm vị của Giáo hoàng,-- tức là gồm hết thảy đoàn thể tín đồ Tin Lành.

* * *

Sử Ký Hội Thánh 16

Cuộc Cải Chánh 2

Tại Thụy-sĩ, đất lịch sử của tự do, cuộc Cải chánh đã do Zwingli nhóm lên và Calvin tiếp tục. Năm 1549, các môn đệ của họp lại thành "Hội Thánh Cải chánh." Các cuộc Cải chánh của họ táo bạo hơn của Luther.

Zwingli (1484-1531). Ông sanh trưởng ở thành Zurich; khoảng năm 1516, ông sanh lòng tin quyết rằng Kinh Thánh là phương pháp tẩy uế Giáo hội. Năm 1525, thành Zurich chánh thức tiếp nhận sự giảng dạy của ông, và lần lần bãi bỏ phiếu ân xá, lễ Mi-sa, sự độc thân của hàng giáo phẩm, ảnh tượng và dùng Kinh Thánh làm điển cứ duy nhứt.

Jean Calvin (1509-1564), người Pháp, năm 1533, nhìn nhận sự giảng dạy của phái Cải chánh. Năm 1534, ông bị đuổi khỏi đất Pháp, và năm 1536, tới Genève. Tại đó, trường Đại học của ông trở thành trung tâm trọng yếu của đạo Tin Lành, hấp dẫn các học giả từ nhiều nước đến. Ông được xưng là "nhà thần học trứ danh hơn hết trong đạo Đấng Christ." Renan gọi ông là "người giống Đấng Christ hơn hết trong cả thế hệ mình." Hơn mọi người khác, ông đã hướng dẫn tư tưởng của giới Tin Lành.

Tại Hòa-lan, cuộc Cải chánh sớm được tiếp nhận, trước là giáo lý Luther, sau là giáo lý Calvin. Giáo phái Anabaptiste cũng đã đông đúc. Giữa khoảng 1513 và 1531, đã ấn hành 25 bản dịch Kinh Thánh ra tiếng Hòa-lan, Flamand và Pháp. Hòa-lan là một phần lãnh thổ của Charles V. Năm 1522, vua nầy thiết lập Tôn giáo Pháp đình, và truyền lịnh đốt hết tác phẩm của giáo phái Luthérien. Năm 1525, ông cấm các cuộc hội họp tôn giáo tại đó có đọc Kinh Thánh. Năm 1546, ông cấm in hoặc tàng trữ Kinh Thánh, hoặc bản Vulgate, hoặc bản phiên dịch cũng vậy. Năm 1535, ông ra sắc lịnh "xử thiêu" những người thuộc giáo phái AnabaptistePhilippe II (1566-1598), người kế vị Charles V, lại công bố các sắc lịnh của cha mình, và với sự trợ giúp của dòng Jésuite, đã tiếp tục bắt bớ hung hăng hơn nữa. Bởi một bản án của Tôn giáo Pháp đình, toàn dân đã bị kết tử hình; dưới đời Charles V và Philippe II, hơn 100 ngàn người đã bị tàn sát cách hung bạo không sao tưởng tượng được. Có kẻ bị xiềng xích vào cây trụ gần đống lửa, và lần lần bị quay chết; có kẻ bị bỏ vào ngục tối, bị đánh đòn, bị tra khảo kinh khủng, rồi mới thiêu chết. Phụ nữ bị chôn sống, bị nhận vào quan tài nhỏ quá, bị kẻ hành quyết giày đạp dưới chơn. Những kẻ toan trốn đi nước khác thì bị quân lính chận bắt và tàn sát. Sau nhiều năm không kháng cự và chịu sự hung tàn không tưởng tượng được, các tín đồ Tin Lành ở Hòa-lan bèn liên hiệp dưới sự lãnh đạo của Guillaume d'Orange, và năm 1572, mở cuộc khởi nghĩa lớn lao. Sau bao nhiêu gian khổ khôn tả xiết, năm 1609, họ dành được độc lập. Hòa-lan ở phía Bắc, theo Tin Lành; còn nước Bỉ ở phía Nam, cứ theo Công giáo. Hòa-lan là nước đầu tiên mở trường công do thuế của dân đài thọ, và hợp thức hóa những nguyên tắc khoan dung tôn giáo cùng tự do báo chí.

Ở miền Scandinavie, giáo lý Luther sớm được truyền bá và trở thành quốc giáo tại Đan-mạch (1536). Thụy-điển (1539), Na-uy (1540) 100 năm sau, Gustave Adolphe, vua Thụy-điển (1611-1632), gây được thành tích lẫy lừng vì đã đánh bại Giáo hoàng khi ông nầy cố sức đè bẹp nước Đức theo đạo Tin Lành. 

Ở Pháp, năm 1520, giáo lý của Luther truyền bá tới, và chẳng bao lâu, giáo lý của Calvin cũng lan vào. Khoảng năm 1559, có chừng 400.000 tín đồ Tin Lành, mang danh hiệu là "Huguenots." Sự tin kính sốt sắng và đời sống trong sạch của họ khác hẳn với đời sống thấp kém của hàng giáo phẩm La-mã. Năm 1557, Giáo hoàng Pie III thúc giục phải tận diệt họ. Vua ra sắc chỉ tàn sát họ, và truyền lịnh cho hết thảy thần dân trung kiên phải giúp tay tróc nã họ. Dòng Jésuite đi khắp nước Pháp, thuyết phục tín đồ Công giáo hãy cầm khí giới để tiêu diệt họ. Bị các cán bộ của Giáo hoàng săn bắt như vậy, y như thời Dioclétien, họ bèn nhóm họp bí mật, thường là trong hầm, lúc nửa đêm.

Cuộc tàn sát Saint-Barthélemy.-- Hoàng thái hậu Catherine de Médicis là một tín đồ Công giáo sốt sắng và là công cụ đầy thiện chí của Giáo hoàng. Bà ra lịnh, và đêm 24-8-1572, 70 ngàn tín đồ Tin Lành (Huguenots), kể cả phần lớn thủ lãnh của họ, đã bị tàn sát. Tại La-mã, người ta hết vui sướng. Giáo hoàng cùng ban Hồng y Giáo chủ của ông đi kiệu rất long trọng tới nhà thờ San Marco, và truyền lịnh hát bài "Te Deum" (Thánh ca tạ ơn) để cảm tạ Đức Chúa Trời. Giáo hoàng cho đúc một huy chương để kỷ niệm cuộc tàn sát nầy, và cử một Hồng y Giáo chủ qua Ba-lê để chuyển lời chúc mừng của Giáo hoàng và các Hồng y Giáo chủ tới vua và hoàng thái hậu. Ông Thomas Carlyle nói rằng: "Thiếu điều cả nước Pháp thật đã theo đạo Tin Lành; nhưng nước Pháp đã tàn sát đạo Tin Lành(1) trong đêm Saint-Barthélemy, năm 1572. Vậy nên năm 1792, tại Pháp lại có một cuộc phản đối (Trong tiếng Anh, hai chữ nầy gần giống nhau (Protestantism, protest)) khác" (chỉ về sự tuyên bố Cộng hòa Pháp).

Các cuộc chiến tranh Huguenot.-- Sau cuộc tàn sát Saint-Barthélemy, người Huguenots hiệp nhau lại và võ trang để kháng cự. Rốt lại, năm 1598, do sắc chỉ Nantes, họ được quyền tự do tín ngưỡng và thờ phượng. Nhưng giữa khoảng 1572 và 1598, 200.000 người Huguenots đã tuận đạo. Giáo hoàng Clément VIII gọi sắc chỉ Nantes khoan dung tôn giáo là "một vật đáng rủa sả;" và sau bao nhiêu năm công tác bí mật của dòng Jésuite, sắc chỉ nầy bị bãi bỏ, năm 1685; 500.000 người Huguenots bèn trốn qua các nước theo đạo Tin Lành.

Cuộc cách mạng Pháp xảy ra 100 năm sau (1789), là một cuộc đảo lộn kinh khủng nhứt trong lịch sử. Trong lúc điên cuồng căm giận những sự tàn ác của giai cấp cầm quyền (trong đó có giới phẩm chức Giáo hội chiếm hữu một phần ba đất đai, vừa giàu có, biếng nhác, hủ hoại, vừa nhẫn tâm đối với kẻ nghèo), nhân dân bèn dấy lên, gây cảnh khủng khiếp và đổ máu, bãi bỏ chánh phủ, đóng cửa nhà thờ, tịch thâu tài sản của Giáo hội, tiêu trừ đạo Đấng Christ và Chúa nhựt, tôn nữ thần Lý trí lên ngôi (thể hiện bằng một người đàn bà phóng đãng). Nã-phá-luân khôi phục Giáo hội, nhưng không khôi phục tài sản của nó. Năm 1802, ông ban bố sự khoan dung tôn giáo cho mọi người; và ông hầu đã kết liễu quyền hành chánh trị của Giáo hoàng ở khắp mọi nước.

Tại xứ Bohême, khoảng năm 1600, trong số 4 triệu dân, 80 phần 100 theo đạo Tin Lành. Khi triều đại Habsbourg và dòng Jésuite làm xong công việc của họ, thì chỉ còn lại 800 ngàn người, và hết thảy là Công giáo.

Ở Áo và Hung, quá nửa dân chúng theo đạo Tin Lành, nhưng do tay triều đại Habsbourg và dòng Jésuite, họ đã bị tàn sát.

Ở Ba-lan, khoảng cuối thế kỷ thứ 16, dường như Công giáo sắp bị quét sạch trơn trọi, song tại đây, dòng Jésuite cũng dùng sự bắt bớ mà giết chết cuộc Cải chánh.

Ở Ý, chính quê hương của Giáo hoàng, cuộc Cải chánh chiếm được địa vị vững vàng; nhưng Tôn giáo Pháp đình hoạt động không ngớt, nên đạo Tin Lành hầu như chẳng còn một vết tích gì.

* * *

Sử Ký Hội Thánh 17

Cuộc Cải Chánh 3

Tại Tây-ban-nha, cuộc Cải chánh không bao giờ tấn bộ được, vì Tôn giáo Pháp đình đã có ở đó. Một bàn tay tàn nhẫn đã đè bẹp mọi sự cố gắng giành quyền tự do hoặc tư tưởng độc lập. Torquemada (1420-1498), một tu sĩ dòng Dominicain, đứng đầu bọn thẩm phán Tôn giáo Pháp đình, trong 18 năm, đã thiêu chết 10.200 người và bỏ tù chung thân 97.000 người. Các nạn nhân thường bị thiêu sống ở công trường; đó là cơ hội cho giới tôn giáo ăn mừng. Từ 1481 đến 1808, có rất ít là 100.000 người bị giết và 1 triệu rưỡi người bị lưu đày. "Trong thế kỷ thứ 16 và 17, Tôn giáo Pháp đình dập tắt sự sanh hoạt văn chương ở Tây-ban-nha, và hầu như loại nước ấy ra khỏi nền văn minh Âu-châu." Khi cuộc Cải chánh nhóm lên, thì Tây-ban-nha là nước hùng mạnh nhứt thế giới. Địa vị lu mờ hiện tại của Tây-ban-nha ở giữa các dân chứng tỏ chế độ Giáo hoàng có thể làm gì cho một nước.

Hải quân Tây-ban-nha (1588) gọi là "Armada." Một đặc điểm của chiến lược dòng Jésuite là tìm cách lật đổ các nước theo đạo Tin Lành. Giáo hoàng Grégoire XIII "chẳng từ chút gì để thúc đẩy Philippe II, hoàng đế Tây-ban-nha, khai chiến với nước Anh theo đạo Tin Lành." Sixte V lên ngôi Giáo hoàng lúc kế hoạch nầy gần thực hiện, và ông gọi nó là một cuộc viễn chinh của Thập-tự-quân (croisade), nghĩa là ông tặng phiếu ân xá cho những kẻ dự chiến. Lúc đó, Tây-ban-nha có hải quân hùng mạnh nhứt từng ở trên mặt biển; nhưng "Armada" kiêu hãnh đã bị thảm bại ở eo biển Manche. "Cuộc đắc thắng của nước Anh là chỗ rẽ cuối cùng trong cuộc đấu kiếm vĩ đại giữa đạo Tin Lành và đạo La-mã; nó chẳng những giữ vững nước Anh và xứ Tô-cách-lan cho chánh nghĩa Tin Lành, song cũng giữ Hòa-lan, miền Bắc nước Đức, Đan-mạch, Thụy-điển, Na-uy nữa."

Ở nước Anh, cuộc khởi nghĩa đi trước, cuộc Cải chánh theo sau. Từ thời Guillaume le Conquérant (1066), đã có nhiều lần người Anh phản đối việc Giáo hoàng kiểm soát nước Anh. Henri VIII (1509-1547) tin như các vị tiền bối của mình rằng Hội Thánh Anh quốc phải độc lập đối với Giáo hoàng, và vua phải là đầu (thủ lãnh) của Hội Thánh ấy. Vụ ly dị của ông vua nầy không phải là nguyên nhân, mà là cơ hội để ông ly khai với Giáo hội La-mã. Henri không phải là bậc thánh, nhưng Giáo hoàng đồng thời với ông, là Paul III, cũng chẳng phải là bậc thánh, vì ông có rất nhiều con không chánh thức. Năm 1534, Hội Thánh Anh quốc dứt khoát chối bỏ quyền hành của Giáo hoàng, và tự tạo một đời sanh hoạt độc lập dưới sự lãnh đạo tinh thần của Tổng giám mục ở Canterbury, còn Henri VIII nhận tước vị là "Thủ lãnh Tối cao" để điều khiển các việc đời nầy và các mối liên lạc chánh trị của nước Anh. Thomas Cranmer là Tổng giám mục ở Canterbury, và cuộc Cải chánh bắt đầu dưới đời ông nầy. Các tu viện bị hủy bỏ, viện cớ nó hủ hoại. Kinh Thánh tiếng Anh được đặt ở các nhà thờ, và có quyển Cầu nguyện để dùng trong các cuộc thờ phượng bằng tiếng Anh; các chi hội cổi bỏ nhiều tục lệ của La-mã giáo. Dưới đời trị vì kế tiếp của Edouard VI (1547-1553), cuộc Cải chánh tấn bộ rất nhiều. Nhưng Nữ hoàng Mary khát máu (1553-1558) quyết cố gắng khôi phục La-mã giáo, và dưới đời trị vì của bà, nhiều tín đồ Tin Lành đã tuận đạo, trong số ấy có Latimer, Ridley và Cranmer. Dưới đời trị vì của Nữ hoàng Elizabeth (1558-1603), dân chúng lại được quyền tự do, và Hội Thánh Anh quốc được tái lập dưới hình thức còn đến ngày nay. Từ Hội Thánh Anh quốc đã phát xuất các giáo phái Puritain (Thanh giáo) và Méthodiste (Giám lý).

Ở xứ Tô-cách-lan vẫn còn ảnh hưởng của Wicliff. Khoảng 1528, giáo lý của Luther truyền bá tới đây, và giáo lý của Calvin theo sau. Truyện tích Cải chánh ở Tô-cách-lan chính là truyện tích John Knox.

John Knox (1515-1572) là một Linh mục Tô-cách-lan; khoảng năm 1540, ông bắt đầu dạy những tưởng Cải chánh. Năm 1547, ông bị quân đội Pháp bắt giải qua Pháp, tại đây ông làm tôi mọi trên một chiến thuyền suốt 19 tháng. Do ảnh hưởng của chánh phủ Anh, ông được thả ra, và năm 1549, ông trở về nước Anh, tiếp tục giảng dạy. Khi Nữ hoàng Mary khát máu lên ngôi năm 1553, ông đi qua Genève, tại đây ông hoàn toàn tiếp nhận giáo lý của Calvin. Năm 1559, Nghị viện của các vương hầu Tô-cách-lan triệu ông về xứ để làm thủ lãnh phong trào cải cách quốc gia. Tình hình chính trị khiến cuộc cải cách Hội Thánh và nền độc lập quốc gia trở thành MỘT phong trào. Mary, nữ hoàng Tô-cách-lan, đã lấy Francois II, vua Pháp, là con trai của Catherine de Médicis (nổi danh vì cuộc tàn sát Saint Barthélemy). Như vậy, Tô-cách-lan và Pháp là thông gia, và ngôi vua của họ liên kết với nhau vì cuộc hôn nhân. Chánh quyền nước Pháp có ý tiêu diệt đạo Tin Lành. Philippe II, vua Tây-ban-nha, và nhiều người Công giáo khác toan mưu sát nữ hoàng Elizabeth để đặt Mary, nữ hoàng Tô-cách-lan, lên ngôi nước Anh. Giáo hoàng Pie V ủng hộ mưu chước ấy bằng cách ra sắc lịnh dứt phép thông công Elizabeth và giải phóng thần dân của bà khỏi phục tòng bà nữa (theo giáo lý của dòng Jésuite, thì đó có nghĩa là kẻ giết bà sẽ có một hành động hầu việc Đức Chúa Trời). Như vậy, đang khi Hội Thánh Tô-cách-lan ở dưới sự kiểm soát của Pháp, thì không thể nào cải chánh được. John Knox tin rằng tương lai của đạo Tin Lành tùy thuộc một cuộc liên minh giữa nước Anh theo đạo Tin Lành và xứ Tô-cách-lan theo đạo Tin Lành. Ông tự tỏ ra là một bậc lãnh tụ kỳ diệu. Hội Thánh Cải chánh thành lập năm 1560; và với sự giúp đỡ của nước Anh, khoảng năm 1567, quân Pháp đã bị đánh đuổi; La-mã giáo đã bị quét sạch trơn trọi hơn là ở bất cứ nước nào khác. John Knox đã dự phần lớn tạo nên xứ Tô-cách-lan, tới ngày nay vẫn còn y nguyên vậy.

Cuộc Phản cải chánh.-- Trong 50 năm, cuộc Cải chánh đã nắm chặt Âu-châu, gồm phần lớn nước Đức, Thụy-sĩ, Hòa-lan, Thụy-điển, Na-uy, Anh, Tô-cách-lan, xứ Bohême, Áo, Hung, Ba-lan, và tiến mạnh tới Pháp. Đó là một đòn kinh khủng cho Giáo hội La-mã, và đến phiên Giáo hội nầy tổ chức cuộc Phản cải chánh. Nhờ Giáo hội nghị Trente (họp 18 năm, từ 1545 đến 1563), dòng Jésuite và Tôn giáo Pháp đình, một số điều quá lạm tinh thần của chế độ Giáo hoàng đã bị bãi bỏ. Khoảng cuối thế kỷ nầy, La-mã đã được tổ chức để tấn công đạo Tin Lành; dưới sự lãnh đạo xuất sắc và tàn ác của dòng Jésuite, La-mã chiếm lại được nhiều đất đai đã mất, tức là miền nam nước Đức, xứ Bohême, Áo, Hung, Ba-lan, Bỉ, và đè bẹp cuộc Cải chánh ở pháp. Trong vòng 100 năm, khoảng 1689, cuộc Phản cải chánh đã tung ra hết lực lượng. Các vua chúa nòng cốt đã đánh trận cho Giáo hoàng là: Charles V (1519-1556), vua Tây-ban-nha, đánh tín đồ Tin Lành ở Đức; Philippe II (1556-1598), vua Tây-ban-nha, chống Hòa-lan và Anh; Ferdinand II (1619-1637), vua Áo, đánh người xứ Bohême (ba ông nầy là hoàng đế của đế quốc La-mã thánh); Cathérine de Médicis, mẹ của ba vua nước Pháp, là Francois II (1559-1560), Charles IX (1560-1574), và Henri III (1574-1589), đã đánh trận để tuyệt diệt người Huguenots.

* * *

Sử Ký Hội Thánh 18

Cuộc Cải Chánh 4

Các cuộc chiến tranh tôn giáo.-- Theo sau phong trào Cải chánh có 100 năm chiến tranh tôn giáo: 1) Chiến tranh chống tín đồ Tin Lành ở Đức (1546-1555); 2) Chiến tranh chống tín đồ Tin Lành ở Hòa-lan;(1566-1609); 3) Chiến tranh chống người Huguenots ở Pháp (1572-1598); 4) Vua Philippe mưu chống nước Anh (1588); 5) Chiến tranh 30 năm (1618-1648). Trong những cuộc chiến tranh nầy cũng có xen vào sự cạnh tranh chánh trị và quốc gia, luôn với những vấn đề tài sản, vì Giáo hội ở nhiều nước chiếm từ 1 phần 5 đến 1 phần 3 tất cả đất đai. Nhưng cuộc chiến tranh nào cũng GÂY RA bởi các vua Công giáo, do Giáo hoàng và dòng Jésuite thúc đẩy, cốt để đè bẹp đạo Tin Lành. Họ là kẻ xâm lăng, còn tín đồ Tin Lành chỉ tự vệ. Sau nhiều năm chịu bắt bớ, tín đồ Tin Lành ở Hòa-lan, Đức và Pháp mới trở thành đảng chánh trị.

Cuộc chiến tranh 30 năm (1618-1648). Khoảng năm 1580, tại xứ Bohême và Hung, tín đồ Tin Lành chiếm đa số và gồm hầu hết các vị vương hầu có đất đai. Hoàng đế Ferdinand II, thuộc triều đại Hasbourg, đã do dòng Jésuite giáo dục; và nhờ họ giúp đỡ, ông đã mưu toan tiêu diệt đạo Tin Lành. Tín đồ Tin Lành bèn hiệp lại để kháng cự. Phần đầu cuộc chiến tranh (1618-1629), thì Công giáo thắng; họ trục xuất được đạo Tin Lành khỏi hết thảy quốc gia theo Công giáo. Đoạn, họ quyết định đem các tiểu quốc Tin Lành ở Đức trở lại Công giáo. Gustave-Adolphe, vua Thụy-điển, nhận thấy rằng nếu nước Đức theo Tin Lành sụp đổ, thì Thụy-điển cũng sụp đổ và có lẽ đạo Tin Lành không còn nữa. Ông bèn xông vào vòng chiến, và quân đội ông đã thắng (1630-1632). Ông đã cứu được chánh nghĩa Tin Lành. Phần cuối cuộc chiến tranh nầy (1632-1648) đại để là cuộc vật lộn giữa Pháp và triều đại Habsbourg, và kết quả là Pháp trở thành cường quốc bá chủ Âu-châu. Cuộc chiến tranh 30 năm khởi đầu là một cuộc chiến tranh tôn giáo, và kết liễu là một cuộc chiến tranh chánh trị. Kết cuộc từ 10 đến 20 triệu người đã bỏ mạng. Ferdinand II do người Jésuite giáo dục đã gây cuộc chiến tranh nầy với mục đích đè bẹp đạo Tin Lành. Nó kết liễu bằng hòa ước Wetphalie, năm 1648, ấn định giới hạn giữa các quốc gia Công giáo và các quốc gia Tin Lành.

Các cơn bắt bớ của Giáo hoàng.-- Số người tuận đạo trong các cơn bắt bớ của Giáo hoàng còn đông bội phần hơn số người tuận đạo trong Hội Thánh đầu tiên, dưới tay đế quốc La-mã. Hàng trăm ngàn người thuộc phái AlbigeoisVaudois và tín đồ Tin Lành ở Đức, Hòa-lan, xứ Bohême và nhiều nước khác đã bỏ mình. Quả thật, "Kẻ tà dâm... say huyết các thánh đồ" (Khải huyền 17:5, 6). Trong vấn đề nầy, người ta thường bào chữa cho các Giáo hoàng rằng đó là "tinh thần của thời đại" và "người Tin Lành cũng bắt bớ." "Về "tinh thần của thời đại," thì thời đại của ai đó? và ai đã tạo nên thời đại như vậy? Của các Giáo hoàng, và các Giáo hoàng đã tạo nên nó như vậy. Ấy là thế giới của họ. Trải qua 1000 năm, họ đã huấn luyện thế giới để phục tòng họ. Nếu các Giáo hoàng không giựt Kinh Thánh khỏi dân chúng, thì dân chúng hẳn đã biết nhiều hơn, và "tinh thần của thời đại" sẽ Chẳng như vậy. Đó Chẳng Phải là tinh thần của Đấng Christ, và "những người đại diện Đấng Christ" đáng phải biết rõ hơn. Sự bắt bớ là tinh thần của Ma Quỉ, mặc dầu họ đã nhơn Danh Đấng Christ mà bắt bớ.

Những cơn bắt bớ do tín đồ Tin Lành.-- Calvin đã bằng lòng xử tử Servet. Tại Hòa-lan, giáo phái Calviniste đã xử tử một người xứ [1]c-mê-ni. Tại Đức, giáo phái Luthérien đã xử tử một ít người Anabaptiste. Tại nước Anh, vua Edouard VI, theo đạo Tin Lành, trong vòng 6 năm, đã thiêu chết 2 người Công giáo (trong 5 năm sau đó, nữ hoàng Mary, theo Công giáo, thiêu chết 282 tín đồ Tin Lành). Trong vòng 45 năm, nữ hoàng Elizabeth đã xử tử 187 người Công giáo, phần đông vì tội phản loạn, chớ không vì theo tà giáo. Năm 1659, tại tiểu bang Massachusetts (Mỹ), 3 người thuộc giáo phái Quaker đã bị giáo phái Thanh giáo (Puritain) treo cổ chết. Năm 1692, 20 người Quakers bị xử tử vì làm tà thuật. Tổng cộng, chỉ có vài trăm, hoặc nhiều lắm là 1, 2 ngàn người tuận đạo vì tay tín đồ Tin Lành; nhưng Công giáo đã giết hàng bao nhiêu triệu tín đồ Tin Lành, kể không xiết. Dầu cuộc Cải chánh là một cuộc tranh đấu vĩ đại để giành quyền tự do tín ngưỡng, nhưng các nhà Cải chánh đã chậm ban cho kẻ khác cái mà chính mình họ tìm kiếm. Tuy nhiên, nguyên tắc căn bản của phong trào họ là chống sự bắt bớ để giành quyền tự do tín ngưỡng. Luther nói rằng: "Chúng ta hãy Lý Luận để giải quyết tình trạng nầy." Giáo hoàng đáp lại: "Hãy Đầu Phục, bằng không, sẽ bị thiêu chết." Mặc dầu đây, đó, chính các nhà Cải chánh tỏ ra dấu tích không khoan dung tôn giáo của Giáo hội La-mã, nhưng họ dạy rằng đạo Đấng Christ phải được truyền bá hoàn toàn và tuyệt đối bởi những phương pháp trí thức, đạo đức và thiêng liêng. Còn tư tưởng của Giáo hội La-mã thời ấy là: Dùng võ lực, khí giới của đời nầy và Chiến Tranh để làm cho người ta trở lại đạo. Trong các nước theo đạo Tin Lành, sự bắt bớ đã chấm dứt khoảng năm 1700.

Giáo dục quần chúng.-- Trong sự nghiệp của Luther có một đặc điểm, là ông nhấn mạnh vào nền giáo dục quần chúng. Giáo hội La-mã đã cai trị thế giới 1000 năm, nhưng đa số quần chúng không biết đọc, biết viết. Trong các xứ theo Công giáo, sự dốt nát của quần chúng vẫn còn ở mực độ cao,-- ấy là so sánh các nước theo đạo Tin Lành. Mục biểu dưới đây ghi rõ bao nhiêu phần trăm dân số một nước còn Thất Học.

Argentine (1895) ................................. 54            Hòa-lan (1900) ...................................... 4

Úc-đại-lợi (1921) ............................... 1, 5            Hung (1910) ........................................ 33

Áo (1910) ............................................ 19            Ấn-độ (1921) ...................................... 93

Bỉ (1910) ............................................. 13            Ái-nhĩ-lan (1911) ............................... 17

Ba-tây (1890) ...................................... 85            Ý (1911) .............................................. 38

Bảo (1905) .......................................... 66            Mễ-tây-cơ (1910) ................................ 70

Gia-nã-đại (1921) .................................. 6            Phi-luật-tân (1903) .............................. 56

Trung-hoa ........................................... 80            Bồ-đào-nha (1911) .............................. 69

Chili (1907) ......................................... 50            Lỗ-mã-ni (1909) .................................. 61

Ai-cập (1917........................................ 92            Nga (1897) .......................................... 69

Anh (1910) ............................................ 6            Tô-cách-lan (1900) ................................ 4

Pháp (1906) ......................................... 14            Tây-ban-nha (1920) ........................... 46

Đức (1900) ......................................... 0.1            Thụy-sĩ (1900) ................................... 0.3

Hi-lạp (1907) ....................................... 57            Mỹ (1920) ............................................. 6

Dầu trong mấy năm gần đây, hầu hết các nước đã cưỡng bách giáo dục và nạn mù chữ lần lần biến mất, nhưng mục biểu trên đây tỏ ra trí tuệ quần chúng đã được mở mang dưới chế độ nào.

Hai nền văn minh.-- trải qua 300 năm , ở Tây phương có hai nền văn minh rất rõ rệt, một là: nền văn minh Tin Lành,chủ trương mở Kinh Thánh cho mọi người đọc, bình dân giáo dục, thiết lập các cơ cấu dân chủ, cải cách xã hội, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận; nền văn minh nầy chiếm ưu thế ở Đức, Thụy-điển, Na-uy, Đan-mạch, Anh, Tô-cách-lan, Mỹ, Gia-nã-đại. Hai là: Nền văn minh Công Giáo La Mã, nhìn nhận các sự kiện trên đây, nhưng không quyết định thực hiện; nền văn minh nầy chiếm ưu thế ở Ý, Tây-ban-nha, Mễ-tây-cơ, Nam-mỹ-châu. Hai Nền Văn Minh Tự Nói Lên Giá Trị Của Nó.

* * *

Sử Ký Hội Thánh 19

Hội Thánh Tin Lành

Sự phân chia của Hội Thánh Tin Lành. Phong trào Tin Lành là sự cố gắng của một phần Hội Thánh Tây phương để tự giải phóng khỏi quyền hành của La-mã và để giành cho mọi người cái quyền thờ phượng Đức Chúa Trời tùy theo lương tâm mình chỉ bảo. Lúc khởi đầu, chắc không tránh khỏi, cuộc tranh đấu giành tự do chia làm nhiều nhánh khác nhau, nhấn mạnh vào những điểm khác nhau, và vương theo một vài điểm sai lầm của La-mã. Ngày nay, phong trào gần được 400 năm, và đã phát triển rất nhiều cùng cải tiến hiển nhiên. Có một tinh thần hợp nhất ngày càng gia tăng, và người ta hiểu đạo Đấng Christ rõ ràng hơn. Mặc dầu có mọi sự phân chia đó, đạo Tin Lành vẫn tốt hơn đạo của Giáo hoàng một ngàn lần. Dầu còn rất xa bậc trọn lành, dầu có những "dòng nước ngược" và nhược điểm, song không còn nghi ngờ chi nữa, Hội Thánh Tin Lành thể hiện đạo Đấng Christ thuần túy hơn hết trong thế giới ngày nay; chắc hẳn đó là hình thức thuần túy hơn hết mà Hội Thánh từng biết từ thế kỷ thứ tư đến bây giờ. Về toàn thể, trên thế giới không có đoàn người nào cao thượng hơn các Mục sư Tin Lành.

Các Hội Thánh bổn quốc.-- Bất cứ nơi nào đạo Tin Lành đắc thắng, thì một Hội Thánh bổn quốc dấy lên: Hội Thánh Luthérienne ở Đức, Hội Thánh Episcopale ở Anh, Hội Thánh Trưởng lão (Presbytérienne) ở Tô-cách-lan, v.v... Cuộc thờ phượng cử hành bằng tiếng bổn quốc, trái với lệ dùng tiếng La-tinh trong Giáo hội La-mã ở khắp mọi nơi. Bao giờ cũng vậy, hễ Hội Thánh ở nước nào giành được quyền tự do khỏi tay Giáo hoàng, thì liền bắt đầu tấn tới trong sự tự làm cho trong sạch.

Nước Mỹ, năm 1607, có tín đồ Thanh giáo Anh quốc đến định cư tại tiểu bang Virginia; năm 1615, có tín đồ cải chánh Hòa-lan đến định cư tại tiểu bang Nữu-ước; năm 1620, có tín đồ Thanh giáo đến định cư tại tiểu bang Massachusette; năm 1634, có tín đồ Công giáo Anh quốc đến định cư tại tiểu bang Baltimore, _ những người nầy chỉ được đặc hứa trạng (charte) sau khi chịu cho mọi tôn giáo khác được tự do; năm 1639, có tín đồ Baptiste đến định cư tại tiểu bang Rhode Island, dưới sự lãnh đạo của vị tiền phong, là Roger Williams, và hứa khoan dung vô giới hạn tất cả tôn giáo khác; năm 1681, có tín đồ Quakers đến định cư tại Pennsylvania, vì sự tự do tín ngưỡng ở nước Mỹ đã hấp dẫn họ đến đó. Như vậy, nước Mỹ đã thành lập trên những nguyên tắc khoan dung tôn giáo cho mọi người, và Hội Thánh tuyệt đối phân rẽ với nhà nước. Ngày nay, những nguyên tắc nầy dầm thấm mọi chánh phủ trên thế giới, đến nỗi mấy năm gần đây, rất nhiều nước, kể cả  các nước theo Công giáo, đã ra sắc lịnh phân chia Giáo hội với nhà nước (mặc dầu chính lúc nầy, dường như hai cơ quan ấy lại muốn liên hiệp). Đó là cuộc đắc thắng lớn lao, vì các Giáo hội trở thành thuần túy hơn một khi được đài thọ bằng số tiền dâng tình nguyện, chớ không phải bằng tiền thuế, và chân lý phát triển dưới các cơ quan tự do thì tốt đẹp hơn là dưới các hệ thống tín ngưỡng bắt buộc.

Tương lai của phong trào Tin Lành tùy thuộc thái độ của phong trào ấy đối với Kinh Thánh. "Cùng với hình thức truyền thống của đạo Đấng Christ, có truyền lại chính bản văn thánh của một nguồn trí thức thiên thượng, không hề bị hủy hoại, nhờ đó Hội Thánh có thể phân biệt đạo Đấng Christ nguyên thủy với mọi sự thêm vào sau; như vậy, Hội Thánh có thể tiến hành công việc tự giữ mình trong sạch cho tới khi hoàn tất."

Trường Chúa Nhật

Sáng lập năm 1780 bởi Robert Raikes, một nhà làm báo ở thành phố Gloucester, nước Anh, cốt để dạy đạo Đấng Christ cho những trẻ em nghèo khó, không được đi học. Sáng lập như một ngành truyền giáo của Hội Thánh, nó đã phát triển mạnh mẽ, và ngày nay trở thành một phần thường xuyên của cuộc sanh hoạt Hội Thánh. Nguyên thủy, hoc sanh trường Chúa nhật buộc phải nhóm họp thờ phượng Chúa sau khi học. Nhưng ngày nay, với một mực độ kinh khủng, trường Chúa nhật đã thay thế cuộc thờ phượng ở nhà thờ(1). Giá trị lớn lao của trường Chúa nhật là nó khuyến khích học Kinh Thánh, và phát triển sự lãnh đạo của những người không có phẩm chức Hội Thánh; với thời gian, sự lãnh đạo nầy sẽ cứu đạo Tin Lành khỏi những lạm dụng của giới phẩm chức chuyên chế, sự chuyên chế nầy đã làm cho Giáo hội La-mã bị tàn hại biết bao!

Các Hội Truyền Giáo Khắp Thế Giới Ngày Nay

Đó là phong trào quan trọng hơn hết trong lịch sử. Nó cung hiến một số truyện tích cảm động hơn hết trong cả nền văn chương, vang động vì đầy sanh lực, chí anh hùng và hữu ích. Các nhà Truyền đạo và các giáo sư trường Chúa nhật đều không chú ý đầy đủ đến đời sống của giáo sĩ. Mỗi chi hội đáng phải nghe đi nghe lại truyện tích của Livingstone, là bậc anh hùng vô song trên thế giới; của Carey, Morrison, Judson, Moffat, Martin, Paton và nhiều người khác, đã đem Tin Lành Đấng Christ đi các xứ xa, đã lập những cơ quan giảng đạo, giáo dục và bác ái theo nguyên lý Tin Lành, hiện đang biến cải thế giới. Khi lịch sử chấm dứt và có thể thấy phối cảnh tổng quát của cả truyện tích loài người, thì ta chắc sẽ nhận biết rằng Phong trào Truyền giáo khắp thế giới trong thế kỷ trước đây, với tất cả ảnh hưởng của nó trên các nước, thật là Chương Vẻ Vang Hơn Hết Của Lịch Sử Loài Người.

Giáo Hội Hi-Lạp, Hoặc Chánh Thống Đông Phương

Đạo Đấng Christ thiết lập trước nhứt ở đông bộ, hoặc vùng Hi-lạp, của đế quốc La-mã. Trải qua 200 năm, tiếng Hi-lạp là ngôn ngữ của đạo Đấng Christ.

Năm 330 S.C., hoàng đế Constantin dời thủ đô đế quốc La-mã qua Constantinople; từ đó trở đi, Constantinople cạnh tranh với La-mã.

Năm 395, đế quốc La-mã chia làm Đông đế quốc và Tây đế quốc. Constantinople là thủ đô của Đông đế quốc, và La-mã là thủ đô của Tây đế quốc.

Năm 632-638, ba trung tâm đạo Đấng Christ ở Đông phương, là các xứ Sy-ri, Pa-lét-tin và Ai-cập, bị Hồi giáo chiếm mất, chỉ còn Constantinople mà thôi.

Đến Giáo hội nghị toàn thế giới lần thứ 8 (năm 869), thì Giáo hội Hi-lạp và Giáo hội La-tinh ly khai nhau dứt khoát. Ấy là lần thứ nhứt mà Đông phương không chịu thừa nhận ưu thế của La-mã.

Thỉnh thoảng người ta đã thử tái hợp hai Giáo hội; song mọi sự cố gắng chỉ là vô ích, vì Đông phương không chịu nhìn nhận quyền hành của Giáo hoàng.

Giáo hội Hi-lạp ngày nay là Giáo hội vùng Đông nam Âu-châu và nước Nga, nó là một trong ba nhánh lớn của đạo Đấng Christ, gồm 150 triệu tín đồ, đối với 340 triệu tín đồ Công giáo và 210 triệu tín đồ Tin Lành, hoặc hơn 1 phần 5 tổng số tín đồ Đấng Christ trên thế giới.

Giáo hội Hi-lạp có nhiều thói tục giống như Giáo hội La-mã. Họ không bắt buộc các thầy cả phải ở độc thân. Giáo hội bị nhà nước kiểm soát, nên không có cuộc đấu tranh với các bậc cầm quyền hành chánh, như Giáo hoàng vẫn đấu tranh với các hoàng đế ở Tây phương.

* * *

Sử Ký Hội Thánh 20

Các Danh Nhân Của Phong Trào Tin Lành

Và Chủ Trương Của Họ

Wyclif, thế kỷ thứ 14, là "ngôi sao mai của cuộc Cải chánh." Ông dịch Kinh Thánh ra tiếng Anh, và mở đường cho cuộc Cải chánh tại Anh quốc.

Luther, Calvin, Knox, thế kỷ thứ 16, là các thủ lãnh của cuộc Cách mạng Tin Lành, đã giải phóng Tây âu khỏi ách tôi mọi của Giáo hoàng.

Thanh giáo phái (Puritanisme), phần đầu thế kỷ thứ 17, dấy lên ở phần cuối đời trị vì của nữ hoàng Elizabeth. Nó phát sanh từ chỗ nhân dân chú ý đến Kinh Thánh. Đây là một phong trào Cải chánh ở giữa Hội Thánh Anh quốc, phản đối hình thức chủ nghĩa (formalisme) của thời đại vốn chẳng có sự sống chi hết, và lấy cuộc sanh họat trong sạch, công bình làm mục đích. Vì bị các nhà cầm quyền trong Hội Thánh bắt bớ, họ bèn tự phân ra làm nhiều Hội Thánh độc lập, phần nhiều là Baptiste (Tẩy lễ giáo phái), Congregational(1) (Tự trị giáo phái), và Presbytérien (Trưởng lão giáo phái). Những người thuộc Thanh giáo phái nầy đã đến định cư tại tiểu bang New England (Mỹ) vì đang khi đi tìm tự do, họ được Tân thế giới hấp dẫn.

Roger Williams, thế kỷ thứ 17, Mục sư của Hội Thánh Episcopale, bị đuổi khỏi tiểu bang Massachusetts, năm 1636, bèn thành lập một khu định cư tại tiểu bang Rhode Island, và gia nhập giáo phái Baptiste. Thanh giáo phái đã rất sốt sắng đòi cho mình được quyền tự do tín ngưỡng. Nhưng Williams đòi quyền tự do tín ngưỡng Cho Cả Mọi Người. Ông hết sức mong muốn Hội Thánh Tuyệt Đối Phân Rẽ Với Nhà Nước. Giáo phái Baptiste đáng được tôn trọng tột bậc vì không ngừng nhấn mạnh vào điểm đó, và vì tới nay trên thế giới vẫn còn những lực lượng hùng hậu hoạt động để nếu có thể được, thì cướp luôn gia tài quí báu đó của chúng ta.

John Wesley, thế kỷ thứ 18, 100 năm sau khi Thanh giáo phái dấy lên; ông do Thanh giáo phái tạo nên, vì mẹ ông là người gốc Thanh giáo phái. Nhằm lúc Hội Thánh lại sa vào hình thức chủ nghĩa, không có sự sống chi hết, ông đã giảng lẽ đạo về sự làm chứng của Đức Thánh Linh và về đời sống thánh khiết. Ông vốn là Mục sự của Hội Thánh Anh quốc, song họ không để ông giảng giáo lý của mình trong các nhà thờ. Vậy, ông giảng ở đồng ruộng, trại thợ mỏ và góc đường. Ông tổ chức những hội sanh họat thánh khiết, và suốt đời chăm nom những hội ấy. Cũng như phong trào Thanh giáo của thế kỷ trước, ông đã thay đổi cả bộ mặt đạo đức của nước Anh. Ai nấy nhìn nhận rằng phong trào của ông đã cứu nước Anh khỏi một cuộc cách mạng như ở nước Pháp, ông là một trong những bậc vĩ nhân hàng đầu thế giới.

* * *

Sử Ký Hội Thánh 21

Vùng Địa trung hải chạy qua trung tâm Đông bán cầu, giữa Đại tây dương và Ấn  độ dương, phía Bắc có Âu châu, phía Đông có Á châu, phía Nam có Phi châu; từ xưa cho tới cận đại, vùng Địa-trung-hải là khu vực trong đó dòng văn minh đã diễn ra. Đương thời Đấng Christ. đế quốc La-mã kiểm soát cả vùng nầy, dưới quyền các Sê-sa.

Constantinople (Byzance), do vua Constantin lập làm thủ đô đế quốc La mã. Cứ làm thủ đô của Đông đế quốc, trung tâm của Giáo hội Hi-lạp, và là thành phố thứ hai của thế giới đương thời Trung cổ. Quê hương của Chrysostome. Bị quân Thổ nhĩ kỳ chiếm năm 1453; và năm ấy Đông đế quốc sụp đổ.

La mã là nơi tinh thần các Sê-sa truyền qua các Giám mục của Giáo hội. Các Giám mục tự tôn làm Chúa của giới tín đồ Đấng Christ, đó là sự yêu sách mà họ phải khó khăn lắm mới làm cho người ta thừa nhận, nhưng hơn một nửa giới tín đồ Đấng Christ vẫn không chịu thừa nhận. Tuy nhiên, đế quốc của Giáo hoàng dấy lên từ tàn tích của đế quốc ngoại đạo đã là một yếu tố hùng mạnh của lịch sử, làm cho La-mã, về toàn thể, trở nên đô thị có thế lực nhứt thế giới mãi tới những ngày gần đây.

Giê-ru-sa-lem, An-ti-ốt, Ê-phê-sô, Cô-rinh-tô, La-mã, là những trung tâm chánh yếu của đạo Đấng Christ ở thế kỷ thứ nhứt.

La-mã, A-léc-xăn-đơ-ri, Carthage, ở thế kỷ thứ 2 và thứ 3.

A-léc-xăn-đơ-ri, ở thế kỷ thứ 3, trở thành trung tâm trí thức của giới tín đồ Đấng Christ. Quê hương của Origène.

La-mã, Contanstinople, An-ti-ốt, Giê-ru-sa-lem, A-léc-xăn-đơ-ri là trụ sở của 5 vị Giáo trưởng quản trị Hội Thánh đang khi chế độ Giáo hoàng phát triển.

Tours, năm 732 S.C., có một trận đánh ở đây, kết quả Charles Martel chận đứng cuộc tiến như vũ bão của quân Hồi giáo và cứu được Âu-châu.

Vienne, tại đây, năm 1683, Jean Sobieski đánh bại quân Thổ-nhĩ-kỳ, và chận đứng sự hăm dọa thứ hai của Hồi giáo đè trên Âu-châu.

Bắc phi, Tây Á vốn theo đạo Đấng Christ, nhưng đến thế kỷ thứ 7, vì võ lực, đã trở theo Hồi giáo, và tới ngày nay vẫn còn theo Hồi giáo.

Giê-ru-sa-lem, nơi phát sanh đạo Đấng Christ.

An-ti-ốt, trung tâm từ đó đế quốc La-mã trở lại đạo Đấng Christ.

La Mecque, nơi Hồi giáo phát sanh.

Médine, thủ đô Hồi giáo tới năm 661 S.C.

Đa-mách, thủ đô Hồi giáo từ 661 đến 750.

Bagdad, thủ đô Hồi giáo từ 750 đến 1258.

Lyon, quê hương của Irénée. Trung tâm đạo Đấng Christ ở xứ Gaule.

Sê-sa-rê, quê hương của Eusèbe, người đầu tiên chép sử ký Hội Thánh.

Carthage, quê hương của Tertullien và Cyprien.

Hippo, quê hương của Augustin, nhà thần học trứ danh.

Prague, quê hương của Jean Huss.

Florence, nơi Savonarole bị thiêu chết.

Constance, nơi nhóm Giáo hội nghị ra lịnh thiêu chết Jean Huss.

Wittenberg, quê hương của Luther, người giải phóng Âu-châu.

Worms, tại đây một nghị hội nổi danh đã họp để xét xử Luther.

Genève, nơi Calvin cư ngụ, một trung tâm của cuộc Cải chánh.

063
Trente, nơi họp Giáo hội nghị do Giáo hoàng triệu tập để tìm cách chận đứng cuộc Cải chánh.