TIN LÀNH CHỮA BỊNH - Chương IV. Những Lời Làm Chứng Của Kinh Thánh

CHƯƠNG THỨ TƯ
NHỮNG LỜI LÀM CHỨNG CỦA KINH THÁNH

Chúng ta không thể nào nghi ngờ giá trị những lời làm chứng của Kinh Thánh về vấn đề Đức Chúa Trời chữa bịnh. Những lời làm chứng nầy đem Tin Lành xuống tới mực cá nhơn để tiếp xúc với người đang đau đớn; và riêng sự dạy dỗ trừu tượng (không có gì hiển nhiên trước mặt người ta) không thể làm như vậy. Chúng ta hãy xem xét một vài trường hợp.

TRƯỜNG HỢP CỦA GIÓP

Đây là trường hợp cổ nhứt đã được mô tả rất tỉ mỉ trong Kinh Thánh.

1)    Bịnh tật do quỉ Sa-tan mà ra. Đức Chúa Jesus cũng dạy bảo tỏ tường rằng do quỉ Sa-tan đụng đến mà phát một vài thứ tật bịnh; và quyền phép của nó vẫn chưa bị giảm bớt.

2)    Bịnh tật của Gióp do Đức Chúa Trời cho phép. Bịnh tật ấy cốt để khiến ông dò xét lòng mình và thấy mình rất cần được nên thánh.

3)    Bịnh tật của Gióp thoạt tiên không làm cho ông nên thánh, nhưng chỉ khiến ông bày tỏ sự công bình riêng của mình một cách sâu xa hơn. Tật bịnh không luyện cho ai nên trong sạch: mặc dầu nó khiến ta thấy mình cần được thánh khiết và cần nhận lãnh sự thánh khiết đối với Đức Chúa Trời.

4)    Khi Gióp thấy và nhận tội lỗi của mình trước mặt Đức Chúa Trời, thì tật bịnh của ông được cất đi ngay. Vả, khi Đức Chúa Trời tự tỏ Ngài ra, thì Gióp thấy và nhận tội. Bấy giờ ông kêu rằng: "Bây giờ mắt tôi đã thấy Ngài: Vì vậy tôi lấy làm gớm ghê tôi, và ăn năn trong tro bụi" (Gióp 42:5-6). Rồi ông được xưng công bình trọn vẹn, và đồng thời cũng nhận được tinh thần yêu thương và tha thứ cho kẻ khác. Rồi đang khi ông cầu nguyện cho họ, thì Đức Chúa Trời cất hết tật bịnh của ông.

Khi nào ta thuận hiệp cùng Đức Chúa Trời và cầu nguyện cho kẻ khác, thì chính mình ta càng được ơn phước lớn hơn. Sự chữa lành bịnh cho Gióp đã đổi mới mọi sự, và hết thảy ơn phước của ông đã tăng lên gấp đôi. Và chắc hẳn ơn phước thiêng liêng đã thêm lên đến bậc sâu nhiệm hơn hết.

Có nhiều điều dạy dỗ chúng ta nếu ta xem xét trường hợp nầy trong tay Đức Chúa Trời cho đến khi linh hồn sẵn sàng học bài thiêng liêng và nhận lấy sự sống cùng sự bổ sức mạnh từ nơi tay Đức Chúa Trời.

NHỮNG NGƯỜI Y-SƠ-RA-ÊN BỊ THƯƠNG VÀ CON RẮN BẰNG ĐỒNG
(Dân 21:4-20)

1)    Bệnh tật nầy do tội lỗi mà ra. Họ đã lằm bằm, nên Đức Chúa Trời cho họ cớ mà lằm bằm. Than phiền, phàn nàn là một điều nghiêm trọng, vì nó có thể đem tai họa mà ta sợ, hoặc còn tệ hơn nữa. "Điều tôi kinh khủng lại xảy ra cho tôi" (Gióp 3:25).

2)    Bịnh tật nầy do quỉ Sa-tan mà ra, tức là do con rắn. Cũng một thể ấy, ngày nay nó còn chích sự sống chúng ta, và làm cho máu chúng ta độc địa. Đó là một con rắn lửa. Không phải hết thảy kẻ thù nghịch của chúng ta đều là một thấp thỏi, hèn hạ như sâu bọ trong vũng bùn. Phần đông chúng cao sang và khôn ngoan rất mực.

3)    Con rắn bằng đồng đó khiến chúng ta suy nghĩ về Đấng Christ "trở nên tội lỗi" vì chúng ta (IICôr 5:21). Ngài đã thay chúng ta mà chịu lấy nọc độc của quỉ Sa-tan, của tội lỗi và của sự chết. Ngài đã bị treo trên cây thập tự như khẩu hiệu của sự thắng trận. "Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào thì Con người cũng phải bị treo lên dường ấy, hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời" (Giăng 3:14-15).

4)    Người Y-sơ-ra-ên được chữa lành vì nhìn xem con rắn bằng đồng. Con mắt nhìn xem thật có sức mạnh khôn tả xiết. Một cái nhìn hung ác làm cho linh hồn tê lạnh. Một cái nhìn thuần khiết và yêu thương làm cho linh hồn được hóa hình. Con mắt đem vật nó thấy vào tận linh hồn. Nếu nhìn xem Đức Chúa Jesus, thì sẽ được sự sống của Ngài thấu suốt toàn thân.

Đó là sự sống của thân thể. Chính sự sống ấy vẫn từ Đấng Christ phục sanh truyền vào linh (esprit), hồn (âme) và thân thể chúng ta.

NA-A-MAN
(IICác 5:1-27)

1)    Đây là một tình trạng đặc biệt. Bịnh phung là hình bóng đặc biệt về hiệu quả của tội lỗi tiêu diệt cả linh hồn và thân thể.

2)    Đầu hết, lợi khí để chữa bịnh phung nầy là một đầy tớ gái người Hê-bơ-rơ. Vì cô đã được đại dụng như vậy, nên chúng ta học biết rằng Đức Chúa Trời có thể dùng một sứ giả rất thấp hèn và một lời nói tình cờ. Quả thật, sau đó ít lâu, các đầy tớ của Na-a-man đã có lời khuyên khôn ngoan để giữ cho ông được ơn phước của Đức Chúa Trời.

3)    Rồi ta phải học bài dạy đức tin khiêm nhường và vâng phục. Ý riêng kiêu ngạo của Na-a-man phải chết đi, rồi thân thể ông mới được Đức Chúa Trời rờ đến mà chữa bịnh cho. Vậy, đối với địa vị cao quí của Na-a-man, Ê-li-sê đã tỏ một tinh thần độc lập bình tĩnh: ông chỉ bảo Na-a-man, làm một việc đơn sơ, thấp thỏi, là tắm bảy lần trong sông Giô-đanh để được sạch.

Người bịnh thường bị thương tổn sâu xa vì dường như bị lãng quên, nhưng Đức Chúa Trời thường dùng cách đó để dạy họ biết đức tin phải khiêm nhường và để khiến họ đừng suy nghĩ về mình và về kẻ khác nữa. Cũng như hết thảy tội nhơn kiêu ngạo khác, Na-a-man trước hết chối bỏ Thập tự giá, và gần mất ơn phước; khi ấy, một lời thành thật của bọn đầy tớ khiến ông tỉnh ngộ mà đi tới sông Giô-đanh.

4)    Đức tin của Na-a-man cốt tại ông đã làm đúng như lời đấng tiên tri đã bảo mình. Khi ông đi đường của Đức Chúa Trời, không dời đổi chút nào, và cứ bền đỗ đi đường ấy thì ông được chữa lành trọn vẹn. Có lẽ lần thứ nhứt, lần thứ nhì hoặc lần thứ sáu, vẫn không có dấu hiệu chữa lành chi hết; nhưng ông cứ tiến lên và rốt lại ơn phước lạ lùng đã đến: thịt ông trở nên như thịt con trẻ. Ông bèn nhìn nhận và thờ lạy một mình Đức Giê-hô-va Cao cả mà ông đã tìm được.

5)    Lời ông xin một ít đất ở nơi mình đã được chữa lành là một hình bóng kỳ diệu về "của cầm" ân tứ lớn lao hơn mà chúng ta cũng nhận được, tức là Đức Thánh Linh. Na-a-man đem về nhà mình một ít đất của xứ Ca-na-an; cũng một thể ấy, trong sự chữa lành tật bịnh cho mình, chúng ta đã nhận được "của cầm" Đức Thánh Linh, tức là một phần Thiên đàng ở trên mặt đất nầy.

6)    Diệu kỳ thay, nếu ta nhận thấy cách đấng tiên tri Ê-li-sê cho Na-a-man ra về với lòng tin cậy Đức Chúa Trời mà thôi. Khi Na-a-man hỏi về sự "quì lạy trong đền thờ Rim-môn" (IICác 5:18), thì Ê-li-sê không trả lời trực tiếp, nhưng khiến ông đối xử với Đức Chúa Trời mà thôi, và bảo ông "hãy đi bình yên" (IICác 2:19). Trong mọi sự nầy, loài người có vẻ nhỏ mọn biết bao, và Đức Chúa Trời vinh hiển biết bao!

7)    Nhưng quỉ Sa-tan luôn luôn hoạt động. Đây nó thò tay ra và thúc đẩy Ghê-ha-xi giở thủ đoạn tham tiền. Cũng một thể ấy, sự chữa bịnh giả mạo, thuật đồng bóng và các thuật giống như vậy của quỉ Sa-tan vẫn còn tìm cách "buôn" những sự thuộc về Đức Chúa Trời như là món hàng vậy. Nhưng nếu nhìn gần sát thì anh em sẽ thấy bàn tay nổi phung và mặt "trắng như tuyết" (IICác 5:27).

Ê-XÊ-CHIA
(IICác 20:1-21)

1)    Đây là một bịnh trạng tuyệt vọng. Người ta có thể lý luận rằng thuốc đã dự phần chữa lành cho Ê-xê-chia; nhưng lý luận ấy bị dẹp bỏ bởi cái thực sự rằng không thuốc nào chữa ông được vì Đức Chúa Trời đã phán ông phải chết, chớ không sống được. Vậy, loài người và phương thuốc chẳng có liên quan gì đến sự chữa cho ông lành bịnh; chính là Đức Chúa Trời đã chữa.

2)    Ông lấy lòng khiêm nhường mà quay về với Đức Chúa Trời. Ông không thử tìm kiếm sự cứu giúp nơi loài người. Ông nhìn nhận mình bất lực và giao phó mình cho sự thương xót của Chúa. Lời cầu nguyện của ông không bày tỏ lòng tin cậy lớn lao; nhưng Đức Chúa Trời nghe tiếng kêu tuyệt vọng của ông và đã giải cứu ông.

3)    Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện của Ê-xê-chia cách dứt khoát và rõ ràng, -- chính Ngài cho ông sống thêm 15 năm nữa. Ngài đáp lời Ê-sai và Ê-sai truyền lại cho Ê-xê-chia. Ông lập tức tin lời ấy, và bắt đầu ngợi khen Ngài.

4)    Sự đáp lời cầu nguyện có một dấu hiệu cặp theo tức là "Ngài bèn đem bóng đã giọi trên trắc ảnh A-cha lui lại mười độ, là mười độ đã xuống rồi" (IICác 20:11). Người ta đã đắp "một cái bánh trái vả" (IICác 20:7), nhưng trong cả hai đoạn (IICác 20 và Ê-sai 38), chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời đã ban ơn chữa lành trước rồi; và Đức Thánh Linh đã chép cho chúng ta học biết rằng bánh trái vả đắp theo lời của Ê-sai, chớ không theo lời "Đức Giê-hô-va phán" như khi nói về sự chữa lành ông. Hai đoạn nầy chép rất nhiều chi tiết, nhưng không hề nói đến thầy thuốc.

Đức Chúa Trời đã phán bảo chúng ta dùng dầu xức và lời cầu nguyện bởi đức tin; ta chỉ cần vâng theo lời ấy.

CON TRAI QUAN THỊ VỆ
(Giăng 4:43-54)

Phép lạ chữa bịnh nầy dường như có lời truyền phán đặc biệt về thời đại mình.

1)    Phép lạ nầy dạy chúng ta rằng ta không cần sự hiện diện cụ thể và hữu hình của Chúa để chữa lành. Ngài ở xa đứa trẻ đau yếu nầy, và chỉ phán một lời quyền phép. Lời ấy có sức toàn năng vượt qua các khoảng ngăn cách, cũng như nó vẫn còn từ Thiên đàng truyền xuống mặt đất. Anh em nói rằng: "Ôi! Ước gì Ngài có ở đây!" Không, phép lạ lớn lao nầy đã được thực hiện từ nơi xa.

2)    Phép lạ nầy do đức tin đơn sơ, chớ mắt không thấy và cũng không có dấu hiệu nào. Đức Chúa Jesus khiến quan thị vệ nầy xây bỏ mọi sự trừ ra lời phán đơn sơ của Ngài. Ngài than rằng: "Nếu các ngươi không thấy phép lạ và điềm lạ, thì các ngươi chẳng tin!" (Giăng 4:48). Rồi Ngài thử nghiệm đức tin của ông bằng một lời đơn sơ: "Hãy đi, con của ngươi sống" (Giăng 4:50). Quan thị vệ đã chịu nhận bài học gay go, đã tin lời nói "trần trụi" đó, nên con ông được lành mạnh hẳn. Ông bày tỏ đức tin bằng cách bình tĩnh trở về, không còn vật nài Chúa đến nhà mình nữa.

3)    Phép lạ nầy bắt đầu ở một lúc nhứt định và tiến triển một cách bình tĩnh và từ từ, ấy cũng như cách nhiều người ngày nay được chữa lành. "Người bèn hỏi họ con trai mình đã thấy khá nhằm giờ nào" (Giăng 4:52a). Và "họ trả lời rằng: Bữa qua hồi giờ thứ bảy, cơn rét lui khỏi" (Giăng 4:52b). Bây giờ con ông đang hồi sức. Cũng theo cách ấy, Chúa vẫn còn hành động để cứu giúp mọi người tin cậy Ngài. Đức tin có những lúc mau lẹ và những giờ chậm chạp. Chúng ta phải học tập nhận lấy cả hai cái đó: Phải để riêng ngay lúc ta tin, thì phần hệ trọng của phép lạ đã thực hiện; rồi phải cứ vững lòng tin trong khi mọi phần khác của ơn phước được thực hiện.

SỰ CHỮA LÀNH BÀ GIA PHI-E-RƠ
(Mác 1:29-31)

Đấng Christ vừa mới ở trong nhà hội; tại đó, Ngài đã trừ một con quỉ, làm cho dân chúng kinh ngạc khôn xiết. Kìa, bà gia Phi-e-rơ "đương nằm trên giường, đau rét" (Mác 1:30). Ấy là một bịnh thường; nhưng Chúa nhận thấy rõ ràng có một năng lực khác ở phía sau bịnh rét. Vì "Ngài... quở trách cơn rét" (Lu 4:39 – theo nguyên văn),  và lời quở trách đó ngụ ý rằng có một kẻ gian ác đã gây nên bịnh rét đó. Nếu chỉ là một công lệ thiên nhiên, thì phải quở trách làm chi? Nếu không có ý chí của một thân vị (une personne) nào, thì không có gì đáng quở trách. Phải, bịnh rét chỉ do bàn tay ma quỉ rờ đến, và Ngài đã quở trách chính ma quỉ.

Đoạn, bà gia Phi-e-rơ nắm lấy quyền phép chữa lành mà Ngài "nghiêng mình trên" bà để truyền cho. Ngài cầm tay bà, đỡ dậy, và bà đã đứng dậy. Bà tỏ lòng vâng phục, vì đã nắm lấy tay Ngài giơ ra, và cũng tỏ ra sự hành động vì đã đứng dậy. Vậy, chúng ta phải nắm lấy sự cứu giúp và quyền phép của Ngài.

Rồi bà dùng sức mạnh mới để hầu việc Chúa và mọi người đi theo Ngài. Đó là bằng cớ mạnh nhứt về sự chữa lành và cũng là cách tốt nhứt để dùng sự chữa lành. Vậy, chúng ta phải luôn luôn dâng sự sống mới cho Đức Chúa Trời. Đang khi hầu việc kẻ khác và quên mình đi, thì chúng ta sẽ thấy chính sức mạnh của mình được đổi mới. Đang khi ban phát sự sống của mình, thì ta cứu giữ được nó; và đang khi hầu việc kẻ khác, thì Chúa làm đầy đủ mọi sự cần dùng của ta.

Nầy đây, một cách trao đổi trách nhiệm và sự săn sóc đầy hạnh phước. Ta thấy rằng mình chỉ cần sống cho Ngài, chớ không cần làm chi khác, còn Ngài hứa "làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của ta y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển trong Đức Chúa Jesus Christ" (Phil 4:19). Vả, đức tin khỏe là một ơn phước vật chất dồi dào hơn hết cho sự sống thân thể chúng ta; và theo như mọi người nhận biết, nó là một sự cần dùng lớn lao hơn hết của chúng ta.

SỰ CHỮA LÀNH CHO SỐ ĐÔNG NGƯỜI
(Mat 8:1-34)

Bài học mà những trường hợp chữa bịnh nầy dạy chúng ta chính là Ngài chữa bịnh cho cả mọi người. Ngài chữa bịnh cho mọi người có cần. Ngài muốn tỏ ra rằng không phải là Ngài chỉ chữa bịnh cho những người được Ngài yêu mến đặc biệt như bà gia của một Sứ đồ, nhưng Ngài chữa cho hết mọi người khốn nạn, tội lỗi và đau đớn chịu tin cậy Ngài.

Nhưng bài học cao quí và giúp ích hơn hết là cách liên quan những trường hợp chữa bịnh nầy với lời tiên tri trong sách Ê-sai đã báo tin Đấng Mê-si sẽ gánh vác bịnh hoạn, tật nguyền của chúng ta. Vậy, không phải là tình cờ mà Ngài đã chữa lành cho những bịnh nhơn nầy; sự chữa bịnh nầy không phải là một cách đặc biệt và bất thường bày tỏ quyền phép của Ngài theo tư cách Con Đức Chúa Trời. Nhưng đó là mục đích và ý định thật trong chức vị Mê-si của Ngài. Vậy, người mọi đời có thể đến cùng Ngài mà chất trên Ngài mọi gánh nặng và sự đau đớn của mình.

Những lời nầy sâu nhiệm và đầy đủ biết bao: "Chính Ngài đã lấy tật nguyền của chúng ta, và gánh bịnh hoạn của chúng ta" (Mat 8:17). "Chính Ngài!" không phải là Ngài và thầy thuốc, nhưng một mình Ngài mà thôi. "Chính Ngài!" Không phải là Ngài và chúng ta, nhưng một mình Ngài mang gánh nặng, để cho chúng ta hoàn toàn được thong thả. "Chính Ngài!" Vậy, nếu không có Ngài, thì không thể nào được chữa lành. Mọi sự bọc kín trong Ngài: ấy là sự sống của Ngài ở trong chúng ta, là chính Ngài ngự trong ta: "Chính Ngài!" lấy và gánh không phải một lần, nhưng là cho đến đời đời, không những cất bỏ, nhưng cũng còn giữ gìn và bồng ẵm. Sự chữa lành phước hạnh thay! Đấng của lễ đáng quí mến thay!

NGƯỜI PHUNG
(Mác 1:40-45)

Sự chữa lành người phung đã xảy ra sau đó ít lâu, trong một cuộc hành trình của Đấng Christ qua xứ Ga-li-lê.

1)    Lời cầu xin của người phung nầy là một mẫu mực rất hay về tâm trạng mà ta thấy trong hạng tín đồ trung bình. Người phung nầy hoàn toàn tin cậy Đấng Christ có quyền phép để chữa bịnh, nhưng biết chắc Ngài có vui lòng chữa bịnh cho mình chăng?

Vả, nếu có người bạn sắp nghi ngờ tôi một phần nào, thì tôi thích anh ấy đến cùng tôi và nói: "Tôi chắc rằng nếu anh có thể giúp tôi, nhưng tôi ít tin rằng anh sẵn lòng giúp tôi." Khi nào người ta mới nhận thấy rằng lời nói: "Tùy theo ý Đức Chúa Trời" một cách dễ dãi và thật thà, thường lại che giấu tấm lòng nghi ngờ vừa xảo quyệt, vừa chọc giận Chúa?

2)    Đấng Christ trả lời người phung nầy rất rõ rệt và mạnh mẽ; câu trả lời nầy đáng chứng tỏ rằng Ngài sẵn lòng chữa lành bịnh nhơn nào thành thật và tin cậy Ngài. Ngài trả lời rằng: "Ta khứng, hãy sạch đi" (Mác 1:41). Không có sự nói trớ, nói nước đôi, hoặc sự lưỡng lự, ra điều kiện. Ấy là một câu đáp lại cao cả, đế vương và mau lẹ; mọi người có thể nghe lời Ngài phán trong câu đáp lại ấy.

3)    Tay Đấng Christ rờ đến rất có ý nghĩa cho người phung. Từ lâu lắm mới lại có bàn tay yêu thương rờ đến hắn. Không phải là một cái rào lạnh lẽo hoặc chiếu lệ. Đấng Christ cảm động và thương xót hắn. Tấm lòng đầy yêu thương và chính sự sống của Ngài ở trong cái rờ đó. Phải, Ngài cứu giúp chúng ta không phải vì lời hứa của Ngài bắt buộc Ngài, nhưng Ngài cứu giúp với sự yêu thương đầy tràn và sự chiều nể không bờ bến.

4)    Rồi người phung được sạch phải đến cùng thầy tế lễ tại thành Giê-ru-sa-lem để nhìn nhận và làm chứng một cách thích hợp rằng mình đã được sạch. Trước khi làm chứng trước mặt các thủ lãnh tôn giáo trong nước, hắn không được phép làm chứng cho một người nào khác.

Cũng một thể ấy, chúng ta phải làm chứng về những công việc quyền phép Ngài đã làm trong mình, và phải làm chứng ở nơi Ngài muốn – có lẽ là ở nơi khó khăn hơn hết cho mình, và ở ngay trước mặt những thủ lãnh tôn giáo, vừa kiêu ngạo vừa chống nghịch mình.

Từ xứ Ga-li-lê đến thành Giê-ru-sa-lem, đường xa lắm, nhưng nếu sự làm chứng bắt buộc ta phải hi sinh lớn lao cho Ngài như vậy, thì sự yêu thương của Ngài há chẳng đáng được như vậy sao?

NGƯỜI ĐAU BẠI
(Mác 2:1-12)

1)    Đây Chúa làm tỏ rõ mối liên quan giữa tội lỗi và tật bịnh, và tự nhận là "ở thế gian có quyền tha tội" (Mác 2:10). Từ lúc đó trở đi, Ngài bị coi là kẻ lộng ngôn. Người khốn nạn nầy đến để được chữa lành, nhưng Chúa thấy một sự cần dùng sâu xa hơn cần phải làm thỏa mãn trước đã. Sự sống thiêng liêng phải đi trước sự sống thuộc thể. Vậy nên trước hết, Ngài phán lời tha thứ: "Hỡi con ta, tội lỗi ngươi đã được tha" (Mác 2:5). Chúng ta phải luôn luôn bắt đầu như vậy. Biết bao nhiêu người chỉ vì cần được chữa lành mà đã nghĩ tới sự cứu rỗi linh hồn mình!

2)    Rồi tới thân thể hắn được chữa lành. Nhưng hắn phải nhận lấy sự chữa lành nầy bằng cách vận dụng đức tin dạn dĩ và hay vâng phục; Hắn không được chữa lành đang khi nằm bẹp trên giường. Hắn phải "đứng dậy, vác giường mà đi" (Mác 2:9). Chúng ta cũng phải đứng dậy mà đi nhờ sức mạnh của Chúa.

3)    Trái với lời người ta thường đoán, hắn được chữa lành không phải bởi đức tin của những người khiêng hắn đến cùng Đức Chúa Jesus, nhưng bởi đức tin của chính mình hắn. Đức tin của họ dẫn hắn đến nơi chơn Đức Chúa Jesus, và cho hắn được nghe lời thương xót tha tội. Nhưng chính đức tin của hắn phải đòi cho được chữa lành. Và hắn phải có đức tin chơn thật, thì mới có thể đứng dậy trước đoàn dân đông đó và vác giường đi. Đức tin của kẻ khác nếu thêm vào đức tin của chúng ta, thì có thể giúp đỡ ta nhiều lắm; nhưng tấm lòng không tin chẳng nhận được phước gì từ nơi Chúa hết.  Vậy, ta dường như thấy rõ ràng rằng người nào tin cậy Đức Chúa Trời chữa bịnh phải cẩn thận, chớ chịu lấy trách nhiệm ngăn cản kẻ khác nhận lời khuyên bảo của thầy thuốc.

4)    Nơi chữa lành rất trọng thể, vì là bằng chứng về sự tha tội và dấu hiệu về quyền phép cứu rỗi của Đấng Christ. Ngài thật đã chữa lành cho người nầy hầu cho họ "biết Con người ở thế gian có quyền tha tội" (Mác 2:10). Đấng Christ luôn luôn muốn làm các phép lạ cụ thể để khiến người đời tin quyết rằng thật có Tin Lành của Ngài. Nếu Ngài không bày tỏ quyền phép đủ để thắng những tật bịnh trong đời sống chúng ta, thì ta làm thế nào mà mong cho loài người tin rằng thật có các ân tứ thiêng liêng của Ngài được? Nếu đức tin của một người nào không hề có đủ sức mạnh để làm nên một việc thật khó khăn trong đời thực tế của mình, thìn người ấy có quyền gì mà quyết chắc đạo mình là thật?

KẺ BẠI Ở BÊ-TẾT-ĐA
(Giăng 5:1-9)

1) Đây là một trường hợp chữa bịnh công khai và nhứt định trong ngày Sa-bát. Phép lạ nầy cốt dùng để bác bỏ cái ý tưởng lan rộng trong thời ấy rằng bịnh tật và sự chữa bịnh chỉ có một tánh chất trần gian; cũng cốt để tỏ cho dân chúng biết rằng sự chữa bịnh trong ngày Sa-bát vẫn là thiêng liêng đầy đủ, và sự chữa bịnh thật là một phần cốt yếu trong chức vụ thiêng liêng của Ngài. Nhiều người vẫn còn e sợ tăng phần quan trọng của thân thể một cách quá đáng; họ quên rằng hễ khi nào Đấng Christ rờ đến thân thể, thì Ngài khiến nó nên thiêng liêng và thánh khiết.

2) Bài học quan hệ thứ hai ở đây có liên quan đến những điều dại dột mà người ta nương cậy để được chữa lành. Khi Chúa nhứt định chữa cho kẻ bại nầy, thì Ngài không để ý tới Bê-tết-đa hay là "phương pháp" nào khác; nhưng Ngài chỉ phán một lời quyền phép bảo hắn nương cậy quyền phép của Đức Chúa Trời mà bước đi.

3) Cũng có một bài học cho những người đang chờ đợi, hi vọng ngày cứu giúp sẽ tới, và cứ hi vọng mà đi xuống mồ mả. Khi Đức Chúa Jesus chữa người bại nầy, thì Ngài làm tiêu tan tất cả tương lai ảo mộng của hắn, và đặt hắn trên nền tảng thực tế, vững chắc của một hành động quyết định lúc hiện tại. Cũng một thể ấy, ngày nay người ta thường còn lầm hi vọng là đức tin. Sự thử nghiệm đức tin ấy là có nó luôn luôn sống ở hiện tại và nhận lãnh ơn phước ngay bây giờ.

4) Lại có một bài học rất quan hệ khác nữa là: Nương dựa vào kẻ khác thì chỉ là dại dột vô ích. "Lạy Chúa, tôi chẳng có ai để quăng tôi xuống" (Giăng 5:7), -- câu nầy còn bày tỏ sự nương cậy mòn mỏi của hàng trăm người ngày nay. Họ mong chờ được chữa bịnh do sự giúp đỡ của kẻ khác; họ làm tê liệt tất cả sức lực và lòng tin của mình vì trông nhờ "phương pháp," hoặc nương cậy đức tin và lời cầu nguyện của kẻ khác. Nếu chúng ta chưa vì chính mình mà tin vững vàng, thì kẻ khác không giúp đỡ ta được. Nếu chúng ta nắm chặt lấy họ, thì bàn tay ta sẽ ràng buộc và ngăn trở họ chẳng khác chi người chết đuối nắm chặt lấy kẻ đến cứu, và cả hai có thể cùng chết chìm.

5) Lại nữa, Chúa hỏi người bại rằng: "Ngươi có muốn lành chăng?" (Giăng 5:6b). Lời nầy bày tỏ yếu tố của đức tin quyết định. Đức tin không phải chỉ là một sức mạnh của ý chí nhưng "trụ sở" và "khu vực" của nó chính là ý chí. Đức tin là ân tứ mạnh mẽ hơn hết mà Đức Chúa Trời ban cho loài người, và chẳng ai có thể nhận lãnh nhiều ơn phước từ nơi Đức Chúa Trời nếu không có sự lựa chọn vững chắc và quyết định. Trước hết, chúng ta rằng Chúa muốn chữa cho mình lành mạnh; rồi ta phải đòi xin cho được chữa lành, -- đòi xin với một sức mạnh và bền đỗ cuốn theo tất cả năng lực của thân thể mình.

6) Bịnh nhơn đáng thương nầy còn dạy chúng ta một bài học nữa: Chúa phán cùng hắn rằng: "Đừng phạm tội nữa, e có sự gì càng xấu xa xảy đến cho ngươi chăng" (Giăng 5:14). Không phải là luôn luôn, nhưng thường khi những sự đau đớn dai dẳng và ghê sợ chính là kết quả  trực tiếp của con đường buông lung theo tội lỗi. Nhiều người ngày nay bị tật nguyền vì đã phạm tội lúc trẻ tuổi. Vậy, phải tỏ tường nhìn biết, xưng nhận và từ bỏ mọi tội lỗi: người đã được cứu chuộc nếu muốn giữ vẹn sự sống thiêng liêng, thánh khiết mà Chúa ban cho, thì phải ăn ở trong sạch và tỉnh thức luôn.

Mỗi tấm lòng và lương tâm phải chịu trách nhiệm về chính mình, và Thánh Linh Đức Chúa Trời sẽ tỏ rõ trách nhiệm ấy cho mọi người muốn biết, hầu cho có thể hoàn toàn vâng theo. Nhưng không có "hòn đá thử nghiệm" nào chu đáo cho bằng sự sống chữa lành của Đấng Christ; không có sợi dây nào ràng buộc linh hồn một cách thiêng liêng hơn vào bàn thờ thánh khiết cho bằng lời phán nầy: "Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng chữa bịnh cho ngươi" (Xuất 15:26).

Phép lạ nầy không thể nào phân rẽ với bài giảng tiếp theo về "Sự sống" mà Đấng Christ đã ngự đến để ban cho chúng ta. Nó chính là một thí dụ tỏ rõ sự sống hạnh phước đó. Sự chữa lành của Đấng Christ là chính sự sống của Thần tánh Ngài truyền vào trong chúng ta, không hơn không kém; sự sống ấy bổ sức cho linh hồn cùng thân thể đau yếu của chúng ta; nó là khởi điểm của sự sống đời đời ngay trong thế gian nầy. Đó chính là điều Chúa dạy ở đây: "Con cũng ban sự sống cho kẻ Con muốn thể ấy" (Giăng 5:21); lại rằng: "Giờ đến, và đã đến rồi, khi những kẻ chết nghe tiếng của Con Đức Chúa Trời, và những kẻ nghe sẽ được sống" (Giăng 5:25).

NGƯỜI TEO MỘT BÀN TAY
(Mat 12:9-21)

Phép lạ nầy tái diện trong xứ Ga-li-lê bài học mạnh mẽ về sự chữa bịnh trong ngày Sa-bát; bài học nầy Đức Chúa Jesus đã dạy tại thành Giê-ru-sa-lem khi Ngài chữa lành người bại ở Bê-tết-đa. Cả hai phép lạ nầy càng làm tỏ rõ cái nguyên tắc lớn lao có liên quan đến sự tự do của ngày Sa-bát, sự thánh khiết của thân thể và tánh chất thiêng liêng của sự chữa lành thân thể.

Cả hai phép lạ nầy cùng dạy bài học quan hệ về sự cần phải có đức tin tự động và quyết chiến, thì mới nhận được quyền phép chữa bịnh của Đấng Christ. Bàn tay teo của người nầy cũng yếu đuối, chẳng làm gì được. Tự người nầy không có sức lực cất bàn tay lên. Nhưng hắn phải có một sự cố gắng của ý chí và một hành động mạnh mẽ; không phải là thử, nhưng là làm một cách thành thực và thật mong làm trọn được. Chính lúc hắn làm như vậy, thì một cách lặng lẽ và đầy đủ, quyền phép của Đức Chúa Trời đáp lại hành động vâng phục của hắn, cho hắn được mạnh mẽ và đắc thắng.

Như vậy, đức tin phải làm những việc mà ta tự nhiên không có sức lực để làm; đang khi đức tin tiến lên, thì sức lực mới mẻ tràn lên. Bàn chơn phải bước xuống, thậm chí phải đụng tới mặt nước lạnh, nhưng Đức Chúa Trời chẳng thất tín đâu. Nếu chỉ chờ đợi một cách thọ động, thì không có sự sống hoặc quyền phép của Đức Chúa Trời tràn đến bao giờ. Chúng ta phải đặt chơn vào đất Ca-na-an, phải giơ tay ra hái trái cây sự sống để ăn và sống đời đời. "Con nhện nắm được bàn tay nó, nên ở trong cung của các vua" (Châm 30:28 – theo nguyên văn). Biết bao tín đồ không có tay! Hoặc ngón tay họ không nắm được; ý chí của họ không có sức lực, và đức tin của họ không nắm chặt được. Hỡi những kẻ hờ hững, hãy nghe tiếng Ngài. "Hãy giơ tay ra" (Mat 12:13).

Trong những lời Đức Chúa Jesus lý luận với những người Pha-ri-si về trường hợp nầy, Ngài không để cho ai có cớ nghi ngờ quan điểm của Ngài rằng sự chữa bịnh có liên quan với ý chỉ của Đức Chúa Trời. Ngài chế giễu thành kiến của họ đối với việc Ngài chữa bịnh nhơn trong ngày Sa-bát, và dùng hai lý cớ binh vực sự chữa bịnh cho người nầy. Trước hết là lòng nhơn đạo, và bấ cứ người nào thấy con bò hoặc con chiên ngã xuống hố, cũng phải kéo nó lên; Thứ hai là chánh nghĩa: Chữa bịnh ấy là "làm lành" và "cứu người": còn không chữa bịnh ấy tức là "làm ác" và "giết người"! Sự chữa lành nầy không phải giống như làm ơn lớn và trị bịnh cho.

Tuy nhiên, những sự dạy dỗ dịu dàng, đầy lòng thương xót của Đức Chúa Jesus chỉ chọc giận những kẻ gian ác đó. Cả đến khi họ thấy quyền phép Đức Chúa Trời ủng hộ lời dạy dỗ của Ngài, thấy người kia được chữa lành ngay trước mắt mình, họ cũng vẫn đầy lòng cuồng dại, và bàn mưu để giết Ngài đi. Cũng một thể ấy, thành kiến vẫn còn làm cho người ta đui mù, không thấy lẽ thật và sự yêu thương của Đức Chúa Trời; ngày nay vì cớ lòng người ta cứng cỏi nên họ vẫn còn vì thành kiến mà chống nghịch chức vụ chữa bịnh của Đấng Christ.

NGƯỜI ĐỜN BÀ BỊ QUỈ ÁM LÀM CHO ĐAU LIỆT
(Lu-ca 13:10-20)

Đây là một trong những phép lạ Đấng Christ làm nhằm ngày Sa-bát. Nó cũng thuộc về loại phép lạ mà chúng tôi vừa mới giải luận; nó bổ túc và thêm sức cho cùng một nguyên tắc. Vậy chúng tôi xin đặt nó vào đây.

1)    Tánh chất của bịnh tật bà nầy.

Bà bị đau liệt và thân hình sai lệch không sao cứu chữa được. Bà còng gục xuống, không sao đứng thẳng được. Bà đã chịu đau đớn như vậy lâu lắm; suốt 18 năm, bà đã ở trong tình trạng đó. Vậy, người ta đã đem đến trước mặt Chúa, là Thầy Thuốc đại tài, một người mắc bịnh kinh niên, rất khó chữa.

2)    Nguyên nhơn của tật bịnh bà nầy.

Đây, ta thấy một tia sáng chói lọi, rực rỡ lạ lùng chang rọi vào bịnh trạng của bà, song cũng rọi vào tất cả vấn đề tật bịnh. Chúa tuyên bố tỏ tường rằng bịnh tật của bà không do những nguyên nhân tự nhiên, nhưng do sự hành động của một con quỉ; ấy nghĩa là thân thể bà bị "quỉ tật nguyền trói buộc." Ngài phán rằng: "Con gái của Áp-ra-ham nầy, quỉ Sa-tan đã cầm buộc mười tám năm" (Lu 13:16). Ngài không nhìn nhận đây là trường hợp Đức Chúa Trời sửa phạt, nhưng chính là bàn tay của ma quỉ đã trực tiếp hành hại của thân thể bà. Lời nầy không thể nào có ý nghĩa mập mờ, nước đôi. Kẻ nào ôm ấp, nựng nụi một con quỉ gớm ghiếc, dường như nó là một vị thiên sứ, thì phải rùng mình rởn óc khi nghe lời Chúa phán đây.

3)    Vấn đề ý chỉ của Đức Chúa Trời cũng được nêu lên rỏ rệt lạ lùng.

Trong nền luân lý của Đấng Christ, không có chữ nào cao quí hơn chữ "nên" (xem Lu 13:16 – hoặc dịch là: "phải"). Ấy là một chữ thuộc về lương tâm, luật pháp và chánh nghĩa muôn đời. Nó là một sợi dây ràng buộc cả Đức Chúa Trời và người ta. Khi Đức Chúa Trời phán: "Phải" thì không còn kêu nài chi nữa, không còn giảm bớt hoặc thay đổi nữa, nhưng chỉ phải tuyệt đối vâng theo; chữ "phải" không có nghĩa là có thể làm, có phép làm, hoặc có lẽ nên làm; nhưng nó có nghĩa là nếu không làm thì có lỗi. Với những người gian ác đặt thành kiến hèn mạt trước ý chí nhơn từ của Đức Chúa Trời và trước hạnh phước của con cái Ngài, Đấng Christ phán rằng: "Há chẳng nên mở trói cho nó trong ngày Sa-bát sao?" (Lu 13:16). Lời này đáng phải giải quyết dứt khoát vấn đề Đức Chúa Trời đối với sự chữa bịnh cho chúng ta thể nào?

4)    Nhưng còn có một nguyên tắc nữa, tức là nguyên tắc hệ trọng hơn hết, đặt điều kiện và giới hạn cho chữ "phải" cùng mọi sự khác trong trường hợp của bà nầy. Ấy là đức tin của bà. Rõ ràng lắm, Chúa gọi bà là con cái của đức tin, "con cái của Áp-ra-ham" (Lu 13:16). Đó là mấy chữ gồm cả ý nghĩa của câu nầy, nêu lên vấn đề buộc "phải" chữa lành cho bà. "Con cái của Áp-ra-ham nầy, quỉ Sa-tan đã cầm buộc 18 năm, há chẳng nên mở trói cho nó trong ngày Sa-bát sao?" (Lu 13:16).

5)    Đức Chúa Trời có muốn chữa lành mọi người chăng? Ngài muốn chữa lành mọi người có lòng tin. Mấy chữ "con gái của Áp-ra-ham" còn có nhiều ý nghĩa hơn đức tin thường, nó bày tỏ một đức tin rất mạnh mẽ giống như đức tin của Áp-ra-ham – tin mà không thấy, tin những sự khó khăn vô cùng, dường như không thể nào làm được.

Chúng ta có bằng cớ nào tỏ ra bà đã có đức tin như vậy chăng? Có, Kinh Thánh chép rằng Đức Chúa Jesus gọi bà đến cùng Ngài và phán rằng: "Hỡi đờn bà kia, ngươi đã được cứu khỏi bịnh." Chữ "gọi" ngụ ý rằng Ngài đòi bà phải đến cùng Ngài trước hết. Và muốn đến cùng Ngài, bà phải gắng sức và có đức tin phi thường như vậy, bà phải thử cố đến cùng Ngài, rồi mới được Ngài rờ tới mà chữa lành cho. Đang khi ba bước tới, thì Chúa tuyên bố công việc chữa lành đã được thực hiện: "Hỡi đờn bà kia, ngươi đã được cứu khỏi bịnh." Rồi Ngài đặt tay trên bà mà làm hoàn toàn sự chữa bịnh.

Nhưng đức tin của bà phải hành động trước; ấy cũng như Áp-ra-ham, bà đã bước đi bởi đức tin, không có gì hơn nữa. Khi ấy, công việc có thể kể là xong rồi. Đấng Christ phán: "Ngươi đã được cứu khỏi bịnh," rồi các kết quả đầy đủ bắt đầu theo sau.

ĐÂY TỚ CỦA THẦY ĐỘI
(Mat 8:5-13)

1)    Điều thứ nhứt tôi xin anh em chú ý ở đây, là Đức Chúa Jesus hết sức khen ngợi đức tin của một người dân ngoại, là người ít có dịp tiện biết Đức Chúa Trời và hưởng lấy sự sáng của đạo Ngài. Ông nầy có rất ít sự sáng đạo lý hoặc do đã học tập trong sự tín ngưỡng của mình, hoặc do sự hiểu biết nông cạn đạo Giu-đa mà mình đã thâu lượm được; nhưng ông biết bổn phận của mình chừng nào, thì đã trung tín chừng ấy; cũng đã tỏ lòng yêu mến Đức Chúa Trời, lòng nhơn từ đối với đạo Giu-đa mà ông đã bỏ tiền riêng xây cất nhà hội cho.

2)    Đức tin mạnh mẽ của ông đã tự tỏ ra,trước hết bằng cách nhìn nhận Đấng Christ, triệt để kiểm soát hết các lực lượng của vũ trụ, cũng như ông cai trị những người lính có kỷ luật của mình vậy; thứ hai, bằng cách nhìn nhận chỉ lời phán của Đấng Christ cũng đủ làm dứt tật bịnh trong giây lát. Ông chỉ xin một lời phán của Chúa trời đất. Ông nhận lời độc nhứt ấy như một chiếu chỉ tối cao như chiếu chỉ của Sê-sa. Ông nhìn nhận quyền phép của lời Đấng Christ phán. Lời ấy truyền khắp vũ trụ như một giấy ủy nhiệm cao cả, không ai cưỡng lại được. Dầu giấy nầy ở trong tay một đứa trẻ, nó cũng vẫn có sức toàn năng của Ngài.

Luật pháp có sức mạnh khủng khiếp biết bao! Chỉ một tiếng người thay mặt tòa tuyên án, thì dầu có tất cả của cải và thế lực, cũng không thể giữ cho tội nhơn khỏi bị tống lao. Lời Đấng Christ đã phán cũng chúng ta là một lời có quyền phép. Khi đức tin đòi xin  cho được lời ấy, thì tất cả quyền phép của địa ngục và trần gian không dám chống cự. Đây là phạm vi hành động của đức tin: Nó nhậnh lấy lời phán của Vua Thiên đàng, và dùng quyền phép lời phán ấy mà chống lại các lực lượng của bịnh tật và tội lỗi.

3)    Sự khiêm nhường của ông nầy là một phần phụ thêm tốt đẹp của đức tin ông. Ông cảm biết sâu xa rằng mình không đáng được Đấng Christ đến thăm nhà. Ít khi một người Rô-ma kiêu hãnh nhìn nhận mình không xứng đáng được ai đến thăm; nhưng ông đội nầy cảm biết mình đang đứng trước một vị cao sang hơn Hoàng đế của mình, vậy nên tâm thần ông cúi xuống, khiêm nhường, cung kính và thờ lạy Ngài.

Chúng ta có phép đến gần hơn. Chẳng những Ngài hạ cố đến nhà chúng ta, nhưng còn ngự trong lòng ta cho đến đời đời.

NGƯỜI GIÊ-RA-SÊ BỊ QUỈ ÁM
(Mác 5:1-22)

Dường như ta không có cớ gì mà nghi ngờ điều nầy: Chứng điên cuồng và bịnh loạn óc vẫn vẫn có cùng một tánh chất, cùng một nguyên nhơn như những trường hợp người bị quỉ ám đương thời Đấng Christ. Rõ ràng lắm, Chúa kể rằng những sự rối loạn trí óc nầy là do hoạt động của quỉ Sa-tan. Sức mạnh ám ảnh người nầy đủ tiêu diệt cả một bầy heo. Một tấm lòng người có thể chất chứa những lực lượng khủng khiếp biết bao! Sức mạnh của ma quỉ hành động trên thân thể người nầy kihiến hắn bẻ gãy được xiềng xích mà bàn tay loài người tra trên hắn: sức mạnh ấy gợi cho ta suy nghĩ rằng năng lực thiêng liêng có thể có ảnh hưởng đến thân thể, hoặc để làm việc thiện, hoặc để làm ác.

Hết thảy sức mạnh của thân thể điều do nguồn gốc thiêng liêng mà ra. Người khốn nạn nầy dường như cảm thấy ở trong mình có hai yếu tố! Một là ý chí của hắn vật lộn yếu ớt cho được tự do; hai là các tà ma cai trị hắn và đè bẹp ý chí của hắn. Có điềm khác lớn lao giữa người bị quỉ ám nầy và người nào tự ý đầu phục quỉ Sa-tan.

Chúa gặp người nầy và có lòng thương xót hắn rất tha thiết. Chúa coi hắn như là nạn nhơn của một sức mạnh mà hắn không chống cự nổi, vậy, Ngài truyền một lịnh, cho hắn được buông tha. Lập tức mặt mày hắn thay đổi hẳn. Người điên cuồng mà ai cũng khiếp sợ, bây giờ ngồi nơi chơn Đức Chúa Jesus, "mặc quần áo, trí khôn bình tĩnh" (Mác 5:15). Chẳng bao lâu, sức mạnh gớm ghiếc bấy lâu ám ảnh hắn đã được bày tỏ ra trong sự tiêu diệt cả một bầy heo. Chính mình hắn cứ níu chặt lấy Đấng đã giải cứu hắn, và mong ước đi theo Ngài.

Nhưng Đức Chúa Jesus biết rằng hắn cần phải đi theo khuôn phép, là xưng danh Ngài ra và hầu việc Ngài; vậy, Ngài lập tức cho hắn đi riêng để ra đồn tin lành trong gia đình và quê hương mình. Mỗi bước tiến thêm lại thêm lòng tin và sức mạnh cho hắn; chẳng bao lâu, cả xứ Đê-ca-bô-lơ rúng động vì lời chứng của hắn, đến nỗi đường đã dọn sẵn cho Chúa tới thăm và làm công việc lớn lao kết thúc bằng phép lạ cho bốn ngàn người ăn no đủ. Cũng một thể ấy chúng ta thường phải giao cho tín đồ thanh niên làm công việc táo bạo và khó khăn hơn hết, để họ có dịp tỏ lòng tin ở sức Chúa và sức mình.

Sự chữa người điên là một trong những vấn đề hệ trọng hơn hết có liên quan với đức tin. Thuốc chữa linh nghiệm hơn hết chính là quyền phép của Đấng Christ. Chắc hẳn đây là một vấn đề rất khó khăn, và trong nhiều trường hợp, có sự thử thách đức tin gay go và dai dẳng, nhưng phần nhỏ mà ta thử làm tỏ ra rằng ta có thể làm nhiều hơn bội phần với sự khôn ngoan thánh khiết và đức tin can đảm.

NGƯỜI ĐỜN BÀ RỜ ÁO CHÚA
(Lu-ca 8:40-56)

1)    Phép lạ nầy gồm trong một phép lạ khác, tức là sự kêu gọi con gái Giai-ru sống lại. Trong hai phép lạ "sanh đôi" ấy, dường như Chúa đã viết một bài học cao cả gồm hai nguyên tắc mà hai phép lạ ấy tỏ rõ tuyệt diệu: một là Đức Chúa Trời có quyền phép tuyệt đối, thậm chí để hành động ở nơi chỉ có sự chết mà thôi; hai là đức tin có quyền phép tuyệt đối để nhận lãnh mọi sự từ nơi Đức Chúa Trời.

Hai phép lạ nầy làm nổi bật hai sức toàn năng mà Đấng Christ đã ràng buộc với nhau: "Đức Chúa Trời làm mọi việc đều được" (Mat 19:26), và: "Kẻ nào tin thì mọi việc đều được cả" (Mác 9:23).

2)    Lời Kinh Thánh chép đã tỏ rõ bịnh của bà là tuyệt vọng và các thầy thuốc đều đã bó tay. Kinh Thánh không có ý binh vực nghề thầy thuốc, nhưng nói thẳng cho chúng ta biết rằng mọi cách chạy chữa cho bà chỉ khiến bịnh bà càng nặng hơn. Chúng ta nên chú ý điều nầy: Lu-ca vốn là thầy thuốc, đã mô tả mọi sự nầy một cách rất linh động. Sau khi Lu-ca đến cùng Chúa, thì Kinh Thánh không còn chép ông làm nghề thầy thuốc nữa, ấy cũng như không còn chép Ma-thi-ơ làm nghề thâu thuế nữa.

3)    Cách tiến triển của đức tin và sự chữa lành rất đáng chú ý. Có ba bậc.

Trước hết, bà tin rằng mình sẽ được chữa lành. Bà nói rằng: "Nếu ta chỉ rờ áo Ngài, thì cũng đã được lành" (Mat 9:21).

Thứ hai, bà đã rờ áo Ngài. Bà đã làm một việc gì. Yếu tố của người ta trong đức tin đã được bày tỏ rất linh động ở đây. Đức tin không phải chỉ là tin mà thôi, nhưng còn là tiếp xúc với Cứu Chúa hằng ngày. Phải vượt quá sự cần dùng mà ta cảm thấy trong mình; phải rờ tìm và thấy được sự cung cấp trong Ngài. Không phải chỉ là đến gần bên ngoài, cũng không phải là đến gần bằng trí óc. Hàng trăm  người lấn ép Ngài, nhưng chỉ có một người rờ đến Ngài.

Thứ ba, sau khi tin không hơn không kém và sau khi thật đến cùng Chúa, thì có sự nhận lãnh một cách tự cảm biết. Lập tức "huyết cầm lại" (Lu 8:44); bà cảm biết trong thân thể mình rằng mình đã lành hết bịnh. Không phải là bà cảm biết rồi mới tin, nhưng bà tin rồi mới cảm biết.

4)    Nhưng bà phải nhìn nhận ơn phước mà mình đã nhận được. Đấng Christ không cho phép chúng ta nắm giữ các ân tứ của Ngài mà không nhìn nhận trước mặt mọi người. Nếu ta cứ giấu kín, thì không thể hưởng và giữ các ân tứ ấy lâu dài. Ấy cũng như cây cối, các ân tứ cần phải ở nơi sáng láng. Vậy, bà phải dẹp bỏ tất cả sự e lệ tự nhiên của phụ nữ, tấm lòng nhát sợ của bà phải nói ra ơn Chúa nơi chơn Ngài, cho mọi người nghe được. Nếu e lệ và làm thinh, thì chúng ta mất phước biết bao!

5)    Bà được phước biết bao vì đã nhìn nhận như vậy! Chúa phán với bà rằng: "Hỡi con gái ta, đức tin ngươi đã chữa lành ngươi; hãy đi cho bình an" (Lu 8:48). Bà là con gái của Chúa được Ngài yên ủi chữa lành; và bây giờ Ngài cho bà về bình an. Sự bình an sâu nhiệm, thiên thượng nầy do sự tiếp xúc với Đức Chúa Trời mà được, và là phần quí báu nhứt trong cơ nghiệp mà đức tin đem đến cho chúng ta. Chẳng những sự bình an vào trong lòng bà, nhưng bà cũng ở trong sự bình an, ví như một miếng đất rộng rãi và có cây sai trái đến nỗi bà không bao giờ có thể biết giới hạn của nó, hoặc hưởng hết mọi vật quí báu của nó. Chỉ một hành động đức tin nhỏ nhẹ, mong cho thân thể được chữa lành, mà có thể đem lại tất cả ơn phước thiêng liêng sâu nhiệm như vậy chăng? Chính là như vậy, vì phần quí báu hơn hết của ơn phước mà sự chữa bịnh của Ngài ban cho chúng ta, chính là Ngài chữa lành toàn thân ta, đem ta vào địa vị liên hiệp với Đức Chúa Trời, cho ta hưởng ơn đầy đủ mà ta không bao giờ có thể biết nếu chưa được rờ Ngài một cách sanh động.

Quả thật, chúng ta sẽ nhận thấy rằng phần nhiều ơn phước thiêng liêng lớn lao, phần nhiều sự từng trải, phần nhiều sự khải thị của Đức Chúa Trời ban cho dân Ngài trong Kinh Thánh, bắt đầu ở những sự mà ta có thể gọi là ơn phước đời nầy. Áp-ra-ham trở nên cha của những kẻ tin và đã tin Đức Chúa Trời sẽ ban cho mình con trai. Đa-ni-ên thấy sự tái lâm của Đức Chúa Jesus đang khi cầu xin cho những kẻ bị lưu đày được trở về Tổ quốc. Người đờn bà Ca-na-an đã thắng trận tuyệt vời vì xin cho con mình được lành bịnh.

Cũng một thể ấy, những điều mà ta gọi là nhỏ mọn và tầm thường chính là những cái trục mà những sự từng trải thiêng liêng lớn lao hơn hết quay trên đó. Sự tin cậy Đức Chúa Trời để được hết đau đầu hoặc để được một hai chục bạc sẽ dạy ta tin cậy Ngài để được ân điển và sự thánh khiết đầy trọn của Ngài.

HAI NGƯỜI MÙ
(MAT 9:27-31)

Truyện ngắn nầy làm tỏ rõ nhiều nguyên tắc hệ trong.

1)    Riêng sự cầu nguyện không chữa lành người bịnh được.

Hai người mù nầy theo Đức Chúa Jesus từ nhà Giai-ru mà kêu lên rằng: "Xin thương chúng tôi cùng!" (Mat 9:27). Nhưng Chúa Jesus chẳng đáp lại. Có khi người ta nói với chúng ta rằng: "Tôi đã cầu nguyện 40 năm cho được chữa lành, nhưng tôi chẳng lành chi hết." Không có chi lạ, vì nếu anh em cầu xin bởi đức tin, thì không cần phải cầu nguyện lâu như vậy.

2)    Chỉ đến trước mặt Đấng Christ, cũng không chữa bịnh được.

Họ đã đến cùng Chúa, đã bước vào trong nhà nhưng vẫn không được chữa lành. Cũng một thể ấy, nhiều người đi dự cuộc nhóm họp cố thử chịu ảnh hưởng thiêng liêng, dường như tưởng rằng mọi sự đó sẽ cho mình hưởng ơn phước. Có lẽ họ cũng quả quyết đến trước mặt Ngài để xin Ngài giúp đỡ và chữa lành cho, nhưng vẫn chẳng thấy khá hơn chút nào.

3)    Duyên cớ đã được bày tỏ trong bước cuối cùng mà chúng tôi giải luận đây.

Nếu chúng ta không quả quyết tin Ngài thật làm như điều ta cầu xin, thì mọi sự trên kia chẳng ích lợi gì. Chúa hỏi họ rằng: "Hai ngươi tin ta làm được điều hai ngươi ao ước sao" (Mat 9:28). Rồi Ngài tuyên bố công lệ cao cả của đức tin nhứt định cho mỗi người chúng ta được hưởng ơn phước chừng nào: "Theo như đức tin các ngươi, phải được thành vậy" (Mat 9:29). Rồi Ngài rờ mắt họ, cho họ được chữa lành, được sáng lại. Họ bước đi trong sự sáng chói lọi của ban ngày.

Trong việc gì cũng có một bí quyết. Có một cái lò xo hoặc một số bí mật do đó ta có thể mở tủ sắt ra. Có một cách bí mật do đó tờ giấy nầy có thể đem đến trước mặt chánh phủ. Có một bí quyết do đó những lực lượng lớn lao của cõi thiên nhiên bị trị phục và lợi dụng. Cũng có một bí quyết mở cửa Thiên đàng ra, chỉ huy tất cả lực lượng và phương tiện của ngôi Đức Chúa Trời. Ấy không phải là sự cầu nguyện tha thiết, cũng không phải là làm việc nặng nhọc; ấy chỉ là "Theo như đức tin các ngươi, phải được thành vậy."

NGƯỜI ĐÀN BÀ CA-NA-AN
(MAT 15:21-28)

1)    Đây lại là một tấm gương đức tin khác của một người ít có sự sáng đạo lý, ít có cơ hội biết Đức Chúa Trời. Thậm chí chúng ta có thể ngờ rằng người đờn bà nầy suốt đời chưa hề nghe đọc một lời hứa nào hoặc một đoạn nào trong Kinh Thánh, và chưa hề gặp một giáo sư nào được Đức Chúa Trời soi dẫn. Bà thuộc về một dân ngoại bị Đức Chúa Trời rủa sả, và đối với bà mọi sự trái nghịch cả.

Khi bà đến cùng Đức Chúa Jesus, thì dường như Ngài cũng chống nghịch bà. Nghe lời bà cầu cứu đáng thương hại, Ngài chẳng đáp một lời nào. Khi các môn đồ yêu cầu Chúa "truyền cho đờn bà ấy về" (Mat 15:23), nghĩa là yêu cầu Chúa nhậm lời bà và cho bà về, thì Chúa trả lời dường như tuyệt đối không nhìn nhận bà có quyền hưởng ơn thương xót của Ngài. Rốt lại, khi bà sấp mình nơi chơn Ngài mà nài xin Ngài cứu giúp, thì Ngài đáp bằng những lời đầy  vẻ xẳng xớm, xô đuổi; dường như Ngài quở mắng, không cho bà đến gần Ngài nữa. Thậm chí Ngài gọi bà là chó, tức là con vật ở phương Đông làm hình bóng về một người ô uế, không đáng cho ta kết bạn. Nhưng đứng trước mọi sự đó, đức tin của bà càng mạnh mẽ hơn; và rốt lại, bà dựa vào chính lời từ chối của Chúa mà tìm ra lý luận để được ơn phước. Những sự khó khăn không thể nào làm hại đức tin chơn chánh. Trái lại, nó là thuốc bổ cho đức tin lớn lên.

2)    Khi Chúa đối xử với ta và dường như từ chối không ban ơn cho ta, thì ta thấy ý định của Ngài. Suốt cả cuộc tranh đấu đó, Ngài vẫn hiểu biết và yêu thương bà, vẫn thấy lòng tin cậy vẫn không bị từ chối. Ngài chỉ chờ đợi lòng tin cậy ấy vì biết nó sẽ chịu nổi sự thử thách, và đến cuối cùng sẽ "quí hơn vàng hay hư nát" (IPhi 1:7).

Vậy, Chúa cứ để ta sấp mình nơi chơn Ngài, và thậm chí dường như chối bỏ tiếng kêu van của ta, để đem vận dụng tất cả lòng tin cậy và sốt sắng sâu xa của ta.

Đối với người đờn bà Ca-na-an, Đức Chúa Jesus còn nhắm một mục đích nữa. Ngài đưa bà đến chỗ chết về bổn ngã, và đến chỗ cảm biết tội lỗi của mình. Rốt lại, khi bà đã chịu nhận lời Chúa đoán xét mình, chịu đứng vào địa vị một tội nhơn khốn nạn, vô giá trị, thậm chí chịu nhìn nhận mình là một con "chó", tức là tự coi mình là tội nhơn hèn mạt hơn hết, thì bà liền nhận được mọi sự. Đức tin là đi xuống và cũng là đi lên, là sự chết và cũng là sự sống.

3)    Đức tin của bà lớn lao chẳng những vì nó bền đỗ bám riết mà cầu xin lai nhai đến cùng, song cũng vì nó hồn nhiên tìm thấy trong chính lời phán của Chúa một lý cớ rất mạnh cho mình nài xin cho kỳ được ơn phước. Đức tin là một phương thức luân lý, một cách tranh luận với Đức Chúa Trời về trường hợp của mình; nó luôn luôn tìm kiếm một lẽ gì để dựa vào.

Lòng bà nầy dường như trước hết dựa vào ân điển và sự yêu thương của Chúa. Rõ ràng lắm, có một cái gì nói cho bà biết Đấng có vẻ mặt bình tĩnh, nhu mì kia không thể nào từ chối không chịu ban ơn cho mình. Nhưng bà vẫn chưa nghe lời Ngài phán một lời ban ơn nào. Chỉ một lời phán ngắn ngủi, một tiếng thì thầm, một sự nhượng bộ chút xíu, thì đủ cho bà rồi. Nhưng Ngài vẫn chỉ phán những lời xô đuổi.

Rốt lại, Chúa phán một lời dường như đóng kín cửa cho đến muôn đời. Ngài chẳng những kể bà là người dân ngoại, song còn gọi bà là con chó.

Bà vượt qua sự khó khăn ấy thể nào? Một cách lạ lùng lắm. Chính lời Chúa phán đó hóa ra một chiếc cầu cho bà vượt qua sông Giô-đanh. Một con chó chăng? Vậy là bà đã có một địa vị rồi. Một con chó chăng? Phải, thậm chí một con chó cũng có ít nhiều quyền lợi. Bà sẽ đòi cho kỳ được quyền lợi của mình. Bà chỉ xin một miếng bánh vụn thôi. Đối với Chúa, ơn mà bà xin đây chỉ là một miếng bánh vụn, vì Ngài cao cả đến nỗi những công việc lớn lao do quyền năng và lòng yêu thương đã từ ngón tay Ngài mà rớt xuống! Nhưng, ôi! Đối với bà, miếng bánh vụn ấy quí báu biết bao! Bà dường như thưa với Chúa rằng: "Lạy Chúa, tôi xin nhận miếng bánh vụn nầy. Tôi sấp mình nơi chơn Ngài, và nơi chơn con cái Ngài. Tôi không xin phần đồ ăn của họ, nhưng chỉ xin phần họ bỏ đi. Ơn tôi xin đây, không giảm mất phần họ chút nào. Tôi khiêm nhường xin ơn ấy cho tôi cùng con tôi, và chắc hẳn Chúa không thể từ chối.

4)    Không, Đức Chúa Jesus không thể từ chối.

Đầy lòng yêu thương và kinh ngạc, Ngài phán rằng: "Hỡi đờn bà kia, ngươi có đức tin lớn: việc phải xảy ra theo ý ngươi muốn" (Mat 15:28). Và phép lạ đã xảy ra. "Theo ý ngươi muốn!" Đây, chúng ta lại thấy sự quyết định và ý chí chuyên chú, không lay chuyển, là rất cần yếu cho tất cả đức tin và hành động mạnh mẽ. Cũng một ý chỉ ấy, theo phương diện tiêu cực – "Tôi chẳng cho" (Sáng 32:26; nguyên văn là: "Tôi chẳng muốn") – đã làm cho Gia-cốp thắng trận ở Phê-ni-ên mười sáu thế kỷ trước. Cả hai trường hợp xin ơn giải cứu về đời tạm đó là bức tranh vẽ đức tin toàn thắng.

ĐỨA TRẺ BỊ QUỈ ÁM
(MAT 17:14-21)

Ngày sau khi hóa hình, Đức Chúa Jesus phải đối diện với quyền phép của Sa-tan dưới hình thức quỉ ám mà hết thảy môn đồ không làm chi được. Họ thất bại vì họ thiếu đức tin, và họ thiếu đức tin vì mải tranh giành theo dục vọng riêng. Khi Đức Chúa Jesus đến cùng đoàn dân đông, thì Ngài quở trách sự không tin mà Ngài nhận thấy khắp bốn phía, rồi Ngài gọi hai cha con người kia đến trước mặt Ngài. Lúc người cha bắt đầu kể lễ bịnh trạng khó khăn, thì ông sanh ra thất vọng mà kêu lên rằng: "Nếu thầy làm được gì, xin thương xót chúng tôi và giúp cho!" (Mác 9:22). Nhưng lời đáp của Chúa mau mắn tỏ cho ông thấy rằng không cần lo về quyền phép của Đấng Christ, nhưng phải lo về đức tin của ông: -- "Nếu ngươi có thể tin; đối với người nào tin, thì mọi sự có thể được cả" (Mác 9:23 – theo nguyên văn).

Người cha nầy lập tức nhìn nhận trách nhiệm nặng nề mà lời Chúa phán đã đặt trên ông, và ông bằng lòng chịu trách nhiệm đó: -- "Lạy Chúa, tôi tin; xin Chúa giúp đỡ trong sự không tin của tôi! (nguyên văn có hai chữ "Lạy Chúa")" (Mác 9:24).

Hai lời nầy hợp lại – lời cao cả của Chúa phán với ông và lời ông thưa với Chúa, -- là một trong những sự dạy dỗ kỳ diệu hơn hết của Kinh Thánh về đức tin. Lời Chúa phán tỏ ra những khả năng của đức tin: Đức tin làm được mọi sự và sánh ngang với sức toàn năng của Đức Chúa Trời, vì ngoài đức tin ra, thì chỉ còn Đức Chúa Trời là làm được mọi sự. Quả thật, đức tin nắm lấy và sử dụng chính sức toàn năng của Đức Chúa Trời. Lời nói của người cha kia giải thích khả năng của đức tin, nghĩa là: Chúng ta có thể tin đến mực nào? Ngày nay, nhiều người chịu để đời mình tiêu hao vì tự hỏi mình có thể tin chăng? Lại có những người khác khôn ngoan hơn, như người cha nầy cố gắng giơ tay ra trước, rồi nhờ Đức Chúa Trời nâng đỡ và đưa mình đến nơi đến chốn. Nếu ông nói: "Lạy Chúa, xin Chúa giúp đỡ trong sự không tin của tôi" trước khi nói: "Lạy Chúa, tôi tin," – thì thật là vô ích. Nếu ông nói: "Lạy Chúa, tôi tin," rồi dừng ở lại đó, thì cũng vô ích như vậy, vì đức tin của ông chỉ là sức mạnh của ý chí ông mà thôi. Ông vận dụng ý chí của mình, rồi nhờ Đấng Christ ban cho sức mạnh. Đó là đức tin. Đức tin hoàn toàn do Đấng Christ mà ra, và thật đức tin của Ngài ở trong chúng ta, nhưng phải nhận lấy đức tin ấy và phải dùng nó với một bàn tay vững vàng, cương quyết.

Bây giờ quyền phép chữa bịnh tràn đến; nhưng thoạt đầu quyền phép ấy dường như chỉ làm cho bịnh trạng nặng nề hơn. Quyền phép ấy gây cho quỉ Sa-tan chống cự hăng hái đến nỗi những người đứng xem tưởng rằng đứa trẻ đã thật chết rồi. Cũng một thể ấy, khi Đức Chúa Trời bắt đầu chữa lành chúng ta, thì thường khi ta dường như lại đau nặng hơn, và người đời nói rằng ta đã tự giết hại mình. Nhưng sự chết phải đi trước sự phục hưng. Chúng ta chớ sợ, nhưng hãy tin cậy Đấng biết hết, thì mọi sự sẽ tốt lành, đẹp đẽ. Chúa nắm tay đứa trẻ, đỡ nó dậy, và tà ma lìa khỏi nó cho đến đời đời.

NGƯỜI MÙ Ở BẾT-SAI-ĐA
(Mác 8:22-26)

1)    Việc thứ nhứt Đấng Christ làm cho người mù nầy là cầm tay hắn, dẫn hắn ra ngoài thành phố; như vậy, Ngài phân rẽ hắn với đám đông cho hắn có thì giờ suy nghĩ, và dạy hắn nắm tay Ngài mà đi cùng tin cậy Ngài trong bóng tối. Cũng một thể ấy, trước hết Ngài nắm lấy chúng ta và dẫn ta ra ngoài một mình với Ngài; Ngài làm như vậy lâu lắm trước khi ta nhìn vào mặt Ngài, hoặc biết Ngài đang dắt dẫn mình.

2)    Rồi Đức Chúa Jesus bắt đầu chữa lành hắn bằng cách "xức dầu" giản dị làm dấu hiệu, và đặt tay trên mắt hắn. Kết quả là hắn được chữa lành một phần, nhưng thấy sai hình và chưa được thỏa mãn. Như vậy, Chúa dạy chúng ta rằng có khi ta tấn tới từng phần một và theo những chẳng kế tiếp nhau. Có nhiều người không bao giờ đi quá chặng thứ nhứt.

3)    Còn một chặng thứ ba, -- tức là hắn được thấy rõ ràng, trọn vẹn, kết quả ấy do một nguyên nhơn, là nhìn xem Đức Chúa Jesus. Lần đầu tiên, hắn nói: "Tôi thấy người ta" (Mác 8:24), và đang khi chỉ thấy người ta, thì hắn chẳng thấy chi rõ hết. Nhưng lần thứ hai, Chúa khiến hắn "ngó lên", thì bây giờ hắn thấy rõ ràng. Nhìn xem Đức Chúa Jesus một cái, dầu chỉ là nhìn qua bóng mập mờ cũng đủ làm cho mọi vật rõ ràng và trọn lành.

NGƯỜI MÙ Ở THÀNH GIÊ-RU-SA-LEM
(Giăng 9:1-41)

1)    Trong truyện tích nầy, vấn đề tội lỗi liên quan với bịnh tật đã được soi sáng tỏ rõ hơn hết. Đấng Christ dạy các môn đồ của Ngài rằng có những tật nguyền không do tội ác đặc biệt ngoài sự phạm phép thông thường của mọi người, sự đau đớn đã do Đức Chúa Trời cho phép để Ngài có dịp tiện bày tỏ sự thương yêu và quyền phép chữa lành.

2)    Trong sự chữa lành người mù nầy, Chúa lại dùng một dấu hiệu giản dị. Ngài xức mắt hắn bằng nước miếng và đất. Chẳng ai dám nói rằng hai chất ấy có hiệu lực như vị thuốc chữa mắt đui từ lúc sanh ra. Ấy chỉ là dấu hiệu tỏ ra Ngài rờ đến hắn. Rồi Ngài sai hắn đến ao Si-lô-ê mà rửa; khi hắn "trở lại, thì được thấy rõ" (Giăng 9:7).

Cái ao nầy làm hình bóng về Đấng Christ và Đức Thánh Linh. Si-lô-ê cũng là một với Si-lô, và có nghĩa là: "Đấng chịu sai đi!"

3)    Về sau, lời làm chứng của người nầy thật là vinh hiển tột bậc. Với một cách nói châm chọc, giễu cợt sâu sắc, hắn phô bày sự mâu thuẫn giữa các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ đến để xem sự chữa lành mắt đó, và để tìm nơi hắn một vài bằng cớ nghịch cùng Đấng Christ, vì Ngài lại chữ bịnh trong ngày Sa-bát và trái phạm ngày ấy một lần nữa.

Nhưng người quê kệch kia là một tay đối thủ xứng đáng với họ, và sự tranh luận theo sau, thật đã sâu sắc và hào hứng tột bậc. Rốt lại, họ phải dùng bạo lực và đuổi hắn ra khỏi nhà hội. Hắn thật đã chịu bắt bớ vì danh Chúa; sau đó một chút, Đức Chúa Jesus lại đến cùng hắn, tỏ cho hắn biết chơn tướng và sự vinh hiển của Ngài; bấy giờ hắn trở nên một môn đồ đầy sự sống thiêng liêng.

NGƯỜI MÙ BA-TI-MÊ
(Lu 18:35-43)

1)    Tiếng kêu của Ba-ti-mê tỏ ra một sự hiểu biết sâu xa: "Lạy Jesus, con vua Đa-vít!" Lạ lùng thay, chính dân Ngài đui mù, không nhận thấy phẩm tước của Ngài, còn người mù già cả, khốn nạn nầy lại là người thứ nhứt nhận thấy như vậy. Bởi vậy, người khôn ngoan còn là kẻ đui mù, còn kẻ đui mù thì lại vẫn thấy.

2)    Chúng ta thấy Ba-ti-mê có đức tin bền đỗ.

Hắn kêu lớn tiếng; khi dân chúng quở trách hắn, thì hắn lại càng kêu lớn hơn. Hắn quăng cái áo ngoài; cũng một thể ấy, chúng ta phải trừ bỏ mọi trở lực trên đường thiêng liêng. Hắn chỉ cầu xin một điều: đức tin sốt sắng của hắn gồm tóm hết sức lực trong một lời mà thôi: "Lạy Chúa, xin cho tôi được sáng mắt lại" (Lu 18:41). Không thể có đức tin mạnh mẽ mà lại không có sức ước muốn mạnh mẽ. Lời cầu nguyện uể oải không có động lực đủ để bay lên tới Đức Chúa Trời.

3)    Hắn được chữa lành một cách giản dị và vinh hiển. – Chúa dừng lại, kêu hắn đến, hỏi hắn và nghe hắn sốt sắng trả lời. Chúa phán một lời, thì phép lạ thực hiện ngay, hắn được sáng mắt, nhìn xem cảnh tượng đẹp đẽ, nhưng người đứng chung quanh, và chính mặt của Chúa nữa. Rồi hắn không nhìn xa hơn nữa, nhưng la lên ngợi khen Đức Chúa Trời và "đi theo Đức Chúa Jesus."

CÂY VẢ BỊ KHÔ HÉO
(Mác 11:20-25)

1)    Đây là phép lạ đoán phạt độc nhứt của Đức Chúa Jesus; phép lạ nầy dường như ít giục giã đức tin và ít yên ủi chúng ta. Nhưng Đức Chúa Jesus dùng phép lạ nầy làm dịp tiện để dạy dỗ những điều cao quí hơn hết về đức tin; quả thật, phép lạ nầy làm biểu hiệu cho các hành động sâu xa và từ ái hơn hết của ân điển Ngài. Nguyên tắc cao trọng hơn hết của Kinh Thánh là: Sự cứu rỗi do sự hủy diệt mà ra, và sự sống do sự chết mà ra.

Muốn cho người đời sống, thì phải tiêu diệt quỉ Sa-tan, tội lỗi và sự chết. Muốn cho linh hồn nên thánh, thì phải làm tàn héo sự sống thiên nhiên. Muốn cho thân thể được chữa lành, thì phải đánh một "đòn chí tử" vào gốc rễ tật bịnh phát ra. Có những vật cần đến Ngọn lửa và sự Thánh khiết của Đức Chúa Trời. Có khi chúng ta cần những điều trổi hơn sự thương xót và nhu mì; khi ấy tâm linh ta cần lưỡi gươm bén giết chết cái điều gớm ghiếc vẫn chà nát và làm tiêu hao sự sống của mình. Trong thì giờ đó, vinh hiển thay là sự thánh khiết thiêu cháy của Đức Chúa Trời hằng sống!

Đó là ý nghĩa của cây vả khô héo. Đức Chúa Jesus dường như phán cùng các môn đồ rằng: "Các ngươi sẽ làm được việc đã xảy đến cho cây vả." Phải, chúng ta có thể nói một lời bởi đức tin, thì kìa, thịt khô đi và chết. Chúng ta lại có thể nói một lời, thì cây "bịnh tật độc địa" tàn héo đi. Dầu nhánh và lá còn có thể giữ nguyên màu sắc ít lâu nữa, nhưng chúng ta biết rằng gốc rễ đã bị đòn "chí tử" rồi, và công việc tiêu diệt thật đã thực hiện.

Bí quyết của mọi sự nầy là: Hãy có đức tin của Đức Chúa Trời" (Mác 11:22 – theo nguyên văn). Đức tin của Đức Chúa Trời khác hẳn đức tin đến Đức Chúa Trời; ấy cũng như đức tin của Đấng Christ khác hẳn với đức tin của các môn đồ loay hoay mãi với đứa trẻ bị quỉ ám mà chẳng ăn thua gì. Đức Chúa Jesus có ý dạy bảo chúng ta rằng phải có đức tin như chính mình Ngài, thì mới làm được những việc thể ấy; vả chúng ta có thể có và có quyền nhận lấy đức tin ấy.

NGƯỜI QUÈ Ở CỬA ĐẸP
(Công 3:1-26)

Phép lạ thứ nhứt bởi Đức Thánh Linh mà Kinh Thánh có chép sau khi Đấng Christ ngự lên trời, thì có một đặc điểm, là nó nhìn nhận một cách hết sức mạnh mẽ rằng danh Đức Chúa Jesus là nguồn quyền phép độc nhứt và nó chối bỏ tất cả sức mạnh hoặc sự vinh hiển của loài người. Các Sứ đồ dùng danh Đức Chúa Jesus làm tiếng nói đầu tiên với người tàn tật; khi dân chúng kéo vây quanh họ; và các bậc cầm quyền đòi họ đến hầu, thì họ nhiều lần không chịu nhận mình có dự phần làm phép lạ ấy, và chỉ tôn cao đại danh cùng quyền phép của Đấng bị các bậc cầm quyền ấy đóng đinh vào Thập tự giá. Bây giờ không phải là một Chúa có mặt, nhưng là một Chúa vắng mặt, do các tôi tớ Ngài nhơn danh Ngài mà đại diện.

Lại nữa, chính đức tin do đó mà phép lạ đã thực hiện và được tiếp nhận, thì các Sứ đồ cũng được tỏ tường không chịu nhìn nhận là năng lực của mình hoặc của người què kia theo một phương diện nào; vì họ nói rõ ràng rằng: "Đức tin bởi Ngài mà ra, đã ban cho người nầy sự mạnh khỏe trọn vẹn, tại trước mặt hết thảy các ngươi" (Công 3:16). Như vậy, cả đức tin và quyền phép bất quá là chính Đức Chúa Jesus ở trong họ mà hành động và tin.

Lại nữa, các Sứ đồ cho rằng chính phép lạ đó chỉ có giá trị làm chứng cho Chúa, chỉ là dịp tiện rao truyền đạo Ngài một cách rộng rãi và hiệu nghiệm hơn. Họ không bỏ phí thì giờ mà ngạc nhiên trước phép lạ ấy. Họ cũng không để phép lạ ấy thu hút hết sức chăm chú của mình; nhưng họ bình tĩnh tiến lên làm công việc lớn lao hơn, tức là rao giảng Tin Lành.

Sự chữa lành bịnh nhơn chỉ là phần phụ thuộc vào công việc lớn lao của Tin Lành, và luôn luôn phải liên hiệp với công việc đó. Nhưng người què được chữa lành nầy là một lý cớ binh vực đạo Tin Lành không ai bắt bẻ được, và là một cái ụ nâng đỡ thành lũy của Hội Thánh mới thành lập. "Vì thấy người được chữa lành đứng bên hai người, nên chúng không có lời gì mà bẻ bác được hết" (Công 4:14). Thật đẹp đẽ thay! Chúng ta vẫn còn cần những lời làm chứng như vậy. Thế gian, người vô tín và ma quỉ không thể nào bắt bẻ những lời làm chứng như vậy. Chúng tôi đã từng thấy một người vô tín kiêu ngạo hơn hết phải hổ thẹn trước mặt một người đờn bà nghèo khổ, vì bà nầy đứng trước mặt mọi người quen biết mình mà làm chứng về Đức Chúa Trời đã chữa cho mình lành bịnh.

Ê-NÊ Ở LY-ĐA
(Công 9:31-35)

Phép lạ này do tay Phi-e-rơ làm nên, và có những đặc điểm giống như phép lạ trên đây. Trước hết, Phi-e-rơ rất cẩn thận, chỉ nhìn nhận Quyền phép và Đại danh của Đức Chúa Jesus. "Hỡi Ê-nê, Đức Chúa Jesus Christ chữa cho ngươi được lành" (Công 9:34). Phi-e-rơ đã biết mất trước mắt loài người, và phải cứ biến mất mãi mãi.

Rồi kết quả của phép lạ ấy là dẫn đưa người ta đến cùng Đức Chúa Trời: Không phải là khiến họ ngạc nhiên, nhưng là khiến họ ăn năn. "Hết thảy dân ở Ly-đa và Sa-rôn thấy vậy đều trở về cùng Chúa" (Công 9:35). Hiệu lực thật của đạo Tin Lành có quyền phép siêu nhiên bao giờ cũn g là sanh ra những kết quả thiêng liêng và cứu rỗi loài người. Đấng tiên tri Giô-ên cho chúng ta hãy rằng nhờ những dấu kỳ phép lạ ấy mà Đức Thánh Linh sẽ đổ tràn đầy trên thế gian lần chót và nhiều người sẽ tỉnh thức trước khi Đức Chúa Jesus Christ tái lâm.

NGƯỜI QUÈ Ở THÀNH LÍT-TRƠ
(Công 14:8-20)

Đây là một trường hợp chữa bịnh chép trong Kinh Thánh có ý dạy dỗ sâu xa hơn hết.

1)    Đây là một thành phố và một hội chúng hoàn toàn ngoại đạo. Họ không có thành kiến chi hết.

2)    Sứ đồ Phao-lô "giảng Tin Lành cho" họ (Công 14:15). Chắc hẳn ông nói cho họ biết công ơn chữa bịnh và cứu chuộc của Đức Chúa Jesus.

3)    Đang khi giảng, ông nhận thấy ánh sáng của đức tin và hi vọng chiếu trên mặt một thính giả yếu đuối hơn hết. Chúng ta có thể thấy như vậy trong người, vì Đức Chúa Trời ban cho ta tài tự nhiên phân biệt được những tình trạng thiêng liêng.

4)    Rõ ràng lắm, nếu Sứ đồ Phao-lô không "thấy" người què nầy "có đức tin để chữa lành được" (đúng lẽ phải dịch là "có đức tin để được chữa lành") thì ông chẳng chịu đi xa hơn. Nếu có những người không thích tiếp nhận Đấng Christ mà ta lại cố ép họ tiếp nhận Ngài, thì thật là vô ích. Không phải đức tin của Phao-lô đã chữa lành người nầy, nhưng chính là đức tin của hắn.

5)    Nhưng Phao-lô phải giúp hắn thực hiện đức tin ấy. Ông kêu lên rằng: "Ngươi hãy chờ dậy, đứng thẳng chơn lên" (Công 14:10). Không thể nào do dự và tin nửa chừng. Phải can đảm lắm mới có thể hành động táo bạo như vậy. Kìa! Người què đã đáp lại lời dạn dĩ của Phao-lô; chẳng những hắn đứng dậy, nhưng còn "nhảy một cái, rồi đi" (Công 14:10). Đức tin của hắn nhờ việc làm mà nên trọn vẹn.

6)    Không cần nói gì thêm về hiệu quả của phép lạ và tinh thần từ bỏ mình của Phao-lô. Đức Chúa Trời đã được tôn vinh và Phao-lô dùng hết sự vinh hiển cho Ngài.

CHÍNH SỰ TỪNG TRẢI CHỮA BỊNH CỦA PHAO-LÔ
(Công 14:19; IICôr 1:1-24IICôr 4:1-184 )

Chẳng bao lâu, vị Sứ đồ trứ danh đã có dịp tiện thử nghiệm chính đức tin của mình. Nhơn dân bị kích động trước hết thờ lạy ông, rồi sau ném đá ông. Đoàn dân náo loạn bị mấy người Giu-đa chọc cho tức giận, bèn kéo ông ra ngoài thành; họ bỏ mặc ông ở đó, kể như chết rồi, giữa một nhóm ít tín đồ. Nhưng ông có thật chết chăng? Không, "các môn đồ đương nhóm chung quanh người, thì người vùng đứng dậy và vào trong thành. Bữa sau, người đi với Ba-na-ba đến thành Đẹt-bơ" (Công 14:20). Và tại thành Đẹt-bơ, ông lại rao giảng Tin Lành. Há còn có sự gì tuyệt diệu một cách giản dị hơn; hoặc giản dị một cách tuyệt diệu hơn? Không có một lời khoe khoang thậm chí cũng không có một lời tỏ ý kinh ngạc, nhưng ông chỉ bình tĩnh tin cậy Chúa, và Ngài giải cứu ông, rồi ông cứ đi làm việc với sức mạnh của Ngài.

Trong thơ Cô-rinh-tô thứ hai, đoạn 4, ông tỏ cho chúng ta biết bí quyết sức mạnh của ông: "Chúng tôi là kẻ sống, vì cớ Đức Chúa Jesus mà hằng bị nộp cho sự chết" – tức là việc đã xảy ra ở thành Lít-trơ – "Hầu cho sự sống của Đức Chúa Jesus cũng được tỏ ra trong xác thịt hay chết của chúng tôi" (câu 11). Đó là bí quyết của cho ông được phục hồi sức mạnh lạ lùng tại thành Lít-trơ. Sau một chút, ông lại bày tỏ bí quyết ấy cho chúng ta: "Vậy nên chúng ta chẳng ngã lòng, dầu người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn" (câu 16).

Trong đoạn 1 của thơ Cô-rinh-tô thứ hai, Sứ đồ Phao-lô còn tỏ cho ta biết một trường hợp khác ông được Chúa chữa bịnh.

Có một sự khó khăn, túng ngặt xảy đến cho ông ở xứ A-si, đến nỗi ông "mất lòng trông cậy giữ sự sống" (câu 8). Quả thật, khi ông nhìn xem mình, tình cảnh và cảm giác của mình, thì ông chỉ có thể kết luận rằng mình phải chết.

Nhưng ngay trong giờ tối tăm đó, ông có lòng tin cậy nơi sự sống phục sanh của Đấng Christ và nơi "Đức Chúa Trời là Đấng khiến kẻ chết sống lại" (câu 9). Và lòng tin cậy ấy không phải là vô ích. Đấng Christ thật đã giải cứu người ta khỏi sự chết, và Ngài vẫn còn giải cứu các Sứ đồ, nên Phao-lô tin chắc Ngài sẽ giải cứu ông cho đến cuối cùng. Ông chỉ tỏ lòng cám ơn anh em tín đồ ở Cô-rinh-tô, bởi lời cầu nguyện của họ đã giúp đỡ, yên ủi ông, đã có nhiều người có dịp tiện nhơn cớ ông mà tạ ơn và tôn vinh Đức Chúa Trời vì ân điển của Ngài ban cho.

CỨU CHÚA CHÚNG TA TỪNG TRẢI SỰ ĐƯỢC
ĐỨC CHÚA TRỜI BỔ SỨC CHO THÂN THỂ NGÀI

(Mat 4:1-11)

Chính Chúa chúng ta đã để lại cho ta bài học hệ trọng về cách sống phần thân thể, không phải nhờ sức mạnh hoặc sự viện trợ thiên nhiên, nhưng nhờ sự sống của Đức Chúa Trời. Đó chính là ý nghĩa của sự cám dỗ thứ nhứt mà Ngài đã chịu trong đồng vắng. Sự cám dỗ nầy tấn công trực tiếp vào thân thể Ngài. Thấy Ngài yếu sức và hao mòn vì kiêng ăn lâu quá, quỉ cám dỗ bèn đến cùng Ngài và đề nghị Ngài nên làm một phép để có bánh mà ăn cho lại sức.

Chúa trả lời nó rằng Ngài chịu thử thách và kiêng ăn chính vì cớ muốn tỏ ra sự sống của loài người có thể được bảo toàn mà không cần bánh, nhưng chỉ nhờ sự sống và lời phán của chính mình Đức Chúa Trời. Lời Đức Chúa Jesus phán đây có ý nghĩa sâu xa một khi ta nhớ rằng lời ấy trưng dẫn ở sách Phục-truyền Luật-lệ Ký  và trước hết dùng cho dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời phán với họ rằng Ngài thử cố dạy họ cùng một bài học như vầy: "Loài người sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, nhưng loài người sống nhờ mọi lời bởi miệng Đức Giê-hô-va mà ra" (Phục 8:3). Vậy, chẳng phải chỉ một mình Con người cầu sống để làm bằng cớ đặc biệt chứng tỏ quyền phép của Đức Chúa Trời; nhưng bài học nầy cũng cốt dạy loài người, và hết thảy chúng ta phải cùng Ngài học tập nhận lấy sự sống cho thân thể cũng như cho linh hồn, không phải bằng cách loại trừ bánh "song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời" (Mat 4:4). Đó chính là ý muốn Chúa bày tỏ khi Ngài phán, hai năm sau, trong nhà hội thành Ca-bê-na-um rằng: "Như cha, là Đấng hằng sống, đã sai ta đến, và ta sống bởi Cha; cũng một thể ấy, người nào ăn ta, sẽ sống bởi ta vậy" (Giăng 6:57).

Vậy, Đức Chúa Jesus học một bài trong thân thể Ngài: Ngài không chịu nhận bánh của ma quỉ, và đã vì chúng ta mà đắc thắng trong thân thể Ngài. Hai sự cám dỗ sau nhằm vào phần hồn và phần linh của Ngài, và Ngài cũng đã thắng theo cách trên. Vậy, Ngài đã trở nên "cội rễ và cuối cùng của đức tin" (Hêb 12:2) cho chúng ta.

Trên đây là một vài tấm gương vinh hiển về đức tin thuở xưa. " Thế thì, vì chúng ta được nhiều người chứng kiến vây lấy như đám mây rất lớn, chúng ta cũng nên quăng hết gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vương ta, lấy lòng nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua đã bày ra cho ta, nhìn xem Đức Chúa Jêsus, là cội rễ và cuối cùng của đức tin" (Hêb 12:1-2).

"Phàm làm điều chi không bởi đức tin thì đều đó là tội lỗi" (Rô 14:23b)