HỒI GIÁO

(Islam)

Ả rập là một trong những phần trơ trọi nhất của mặt đất. Nó là một bán đảo dài khoảng một ngàn dặm và rộng sáu trăm dặm (1600 km x 960 km), gồm những sa mạc các bụi, những đồi đá và những khoảng rộng sỏi đá trên đó chỉ có loài gai góc mọc. Chỉ có một ít vùng đất phì nhiêu do các dòng suối riêng rẽ tạo ra, mang lại chút êm dịu cho vùng khô hạn nầy. Tuy nhiên, vùng đất không hứa hẹn nầy sản sinh ra một trong ba tôn giáo độc thần giáo lớn nhất thế giới, đó là Hồi Giáo. Giờ đây nó liên can đến gần một tỉ người, bao gồm hầu hết vùng Trung Đông và Bắc Phi.

Hồi Giáo nhấn mạnh đến sự thành đạt của niềm tin của nó và vì thế nó là một tôn giáo truyền giáo chiến đấu (dùng sức mạnh quân sự). Với quyền lực của nó trên các quốc gia dầu hỏa theo Hồi giáo, nó muốn chinh phục thế giới. Người Hồi giáo tin rằng Hồi giáo đáp ứng mọi nhu cầu tôn giáo và thuộc linh của con người. Trước các đền thờ Hồi giáo ở một ngàn thành phố trên cả thế giới, người ta có thể thấy những chữ đầy ấn tượng được ghi bằng chữ in đậm : “Không có Thượng Đế nào khác ngoại trừ Allah, Ma-hô-mét là tiên tri của Ngài ”.

Trong bài học nầy, chúng ta sẽ nghiên cứu vài biến cố lịch sử trong sự phát triển của Hồi giáo. Hồi giáo đã không khởi đầu từ giữa vòng dân du mục mà bắt đầu giữa vòng các dân thành thị, là những người tham gia vào ngành thương mãi. Niềm tin của Hồi giáo đã lan rộng khắp thế giới do các lái buôn và khác du hành, cũng như do các đạo binh chinh phạt. Trong khi sự dạy dỗ của Hồi giáo ngày càng lan rộng khắp mọi miền trên thế giới, thì thật khẩn trương cho những người rao giảng Tin Lành của Đấng Christ hiểu biết những cách thức để họ có thể tiếp cận với người Hồi giáo bằng sứ điệp của Cơ Đốc giáo.

 

Dàn Bài

Làm quen với Hồi giáo.

Những niềm tin của Hồi giáo.

Những sự truyền thông của Hồi giáo.

Sự phát triển của Hồi giáo.

Đánh giá về Hồi giáo.

 

LÀM QUEN VỚI HỒI GIÁO

Những Định Nghĩa.

Hồi giáo là một phong trào tôn giáo do tiên tri Ma-hô-mét sáng lập vào đầu thế kỷ thứ bảy sau công nguyên. Từ ngữ Hồi giáo (Islam) xuất xứ từ từ ngữ Salam của tiếng Ả-rập, có nghĩa là “đầu hàng, phục tùng, bình an và ủy thác”. Hồi giáo là đức tin đặt nơi Allah, có nghĩa là “Vị thần” (The God). Nó bao gồm mạo từ Al của chữ Ả-rập với từ ngữ Illah của chữ Ả-rập có nghĩa là “Thần” (hay Thượng Đế - God). Do đó chữ Hồi giáo (Islam) có nghĩa là “Sự bình an trọn vẹn đến từ sự hoàn toàn đầu phục Allah”. Những tín đồ Hồi giáo được gọi là người Hồi giáo (Muslims), là một danh từ dẫn xuất từ chữ Hồi giáo (Islam). Với tên gọi đó, họ chứng tỏ rằng họ đã giao phó chính mình cho một Vị Cai trị Thần thánh quản trị, họ quyết định đi theo ý muốn của Vị cai trị Thần thánh nầy trong mọi phương diện của cuộc sống. Người Hồi giáo bác bỏ danh từ người Ma-hô-mét (Muhammaidans), vì họ xem Thượng Đế là trọng tâm của đức tin mình, chớ không phải làMa-hô-mét. Cũng như Cơ Đốc giáo, Hồi giáo có gốc rễ trong Do- Thái giáo. Nhưng không giống Cơ Đốc giáo, Hồi giáo là một tôn giáo của các tiên tri, trong đó nó nhìn nhận những người quan trọng như Nô-ê, Áp-ra-ham, Jesus và Ma-hô-mét là các tiên tri, được Thượng Đế lựa chọn và kêu gọi, nhưng vẫn là những con người thường.

 

Bối Cảnh.

Mecca, thủ đô của Ả-rập, là một thành phố thương mại ở giao lộ của hai con đường chính của các đoàn khách thương. Một đường chạy xuyên qua Ả-rập, từ bắc xuống nam, còn con đường kia trải dài từ bờ biển phía Tây dẫn về đông phương. Macca là một địa điểm có những cuộc hội chợ quan trọng được tổ chức hàng năm, và người ta, chủ yếu là người Ả-rập, từ phương xa đến để buôn bán và thờ phượng tại những nơi thờ phượng của các thần ngoại bang ở tại Mecca. Bộ tộc Quraysh mà trong đó Ma-hô-mét được sinh ra là một bộ tộc có quyền thế và kiểm soát sự thờ phượng của dân ngoại ở tại Mecca. Nhiều người là những người theo duy linh thuyết, họ thờ phượng thần linh tại các tảng đá thiêng, cây cối và sông suối. Một trong số những tảng đá thiêng là một thiên thạch màu đen ở khu Kaaba tại Mecca. Một huyền thoại cho rằng hòn đá đó đã từ trời sa xuống từ thời của A-đam. Người ta tổ chức những cuộc hành hương đến Mêcca để thờ phượng thần linh và để hôn hòn đá nầy. Gần khu Kaaba là giếng Zam-Zam mà người ta tin rằng A-ga và ích-ma-ên đã định cư ở đó sau khi bị Áp-ra-ham đuổi ra khỏi nhà. Theo tryền thuyết, Ích-ma-ên, con trai của Áp-ra-ham, đã đến Mecca và đã trở thành tổ phụ của tất cả các dân tộc Ả-rập. Những tên gọi Áp-ra-ham và Ích ma ên vẫn được xử dụng một cách thông dụng giữa vòng người Hồi giáo.

Ngoài những người theo đa thần giáo, cũng có những người theo độc thần giáo tại Ả-rập nữa, nhưng những người nầy chủ yếu là người Cơ Đốc và người Do Thái. Nhiều lái buôn Do Thái là những người tị nạn chiến tranh, họ đã đem cộng đoàn của mình đến ở tại Ả-rập. Các sách Cựu Ước và các lời khẩu truyền của họ được nhiều người biết đến ở đây. Những người Cơ Đốc giáo ở Ả-rập thuộc trong những số những người dốt nát và bị phân hóa. Vào thế kỷ thứ năm và thứ sáu, những cuộc tranh luận giáo lý về bản tính của Chúa Jesus vừa là Đức Chúa Trời vừa là con người; hai bản tính ở trong cùng một Thân Vị. Một số khác tin rằng Ngài khác hẳn với Đức Chúa Trời và con người. Những cuộc bàn cãi nầy rất gay gắt và lan rộng.

Ma-hô-mét đã bước vào môi trường nầy, ông ra đời tại Mecca vào khoảng năm 570 S.C. Cha ông đã từ trần trước khi ông ra đời và mẹ ông đã qua đời khi ông còn là một cậu bé. Một người chú của ông là Abu Talib đã nuôi dưỡng ông và ông đã sống trong sự đầy đủ dầu rằng không phải là giàu có. Ông đã làm với tư cách người quản lý đoàn các đoàn khách thương bằng lạc đà của một góa phụ giàu có, bà Khadija. Dầu bà Khadiji lớn hơn Ma-hô-mét mười lăm tuổi, nhưng bà rất ngưỡng mộ ông đến nỗi bà đồng ý kết hôn với ông, lúc đó ông đã được hai mươi lăm tuổi. Họ có được hai trai và bốn gái mà trong đó chỉ có cô Fatima là còn sống với cha mình. Truyền thuyết nói rằng, bất chấp môi trường xung quanh, Ma-hô-mét là người thật thà và trung tín trong công việc. Tên Ma-hô-mét trong tiếng Ả-rập có nghĩa là “đáng ca ngợi”, và nó được nhiều người nam Hồi giáo dùng trong cả thế giới Hồi giáo.

Ma-hô-mét thấy bối rối vì tình trạng man rợ, sự say sưa, việc sát nhân và nạn trộm cướp xảy ra quanh năm. Rồi sau đó, trong lãnh vực tôn giáo, ông đã chứng kiến những niềm tin, những bè phái, và những tà giáo nỗi bật. Zayd, một người bà con của ông, đã bị phe Quraysh đuổi ra ngoài vì không ăn thịt đã cúng tế cho thần tượng ngoại đạo. Điều nầy đã gây ấn tượng cho Ma-hô-mét, và ông bắt đầu suy nghĩ ráo riết về một Đức Chúa Trời thật. Ông đã tìm thấy một hang động trong vùng núi Hira, cách Mecca ba dặm (gần 5 km) và trong mười lăm năm, lúc nào có thể đi được thì ông đến đó để suy gẫm và cầu nguyện. Con tim ông bị thiêu đốt với những sự mầu nhiệm thiện và ác và việc tìm đến Thượng Đế. Ông bị thu hút rất nhiều với Allah là Thượng Đế mà dân Mecca đã thờ lạy với lòng sùng kính..Ông bắt đầu thấy rằng Thượng Đế đó là đáng kính sợ và thực hữu như là sự sống và sự chết. Ngài đầy dẫy trời và đất. Ngài là Thượng Đế duy nhất, không có ai bằng Ngài hoặc có thể làm đối thủ của Ngài. Không bao lâu từ hang động trong núi của ông đã vang lên câu nói quan trọng nhất bằng tiếng Ả-rập tiếng kêu mà đã thu phục một dân tộc và mở rộng quyền lực của họ đến cái cứu cánh mà cho cả thế giới phải được biết:

La Ilaha Illa Allah, “Không có Thượng Đế nào khác ngoại trừ Allah ”.

Theo huyền thoại, một đêm kia trong khi đang suy gẫm ở trong hang động, ông đã nghe một tiếng nói: “Hãy nhân danh Chúa của ngươi, Đấng đã tạo dựng con người từ cục máu mà thuật lại. Hãy thuật rằng: Chúa của ngươi là từ ái nhất, Đấng dùng ngòi bút đã dạy dỗ nhân loại những điều mà họ chưa biết”. Từ sự hiện thấy đó, ông mệt mõi trở về nhà và kể lại cho Khadija biết từng trải đó. Ông nói rằng sự thăm viếng đó là đến từ thiên sứ Gáp-ri-ên. Ông thuyết phục Khadija rằng không phải ông bị loạn trí mà ông đã được chọn để làm một vị đại tiên tri. Từ đó trở đi, ông dành trọn đời mình để rao giảng sứ điệp đó.

Cũng như trong trường hợp của các nhà sáng lập tôn giáo khác, Ma-hô-mét trước tiên cũng gặp sự chống đối. Tại Macca, nhiều người sợ rằng thuyết độc thần cực đoan của ông sẽ làm giảm số tiền bạc đóng góp vào các đền miếu thờ phượng. Tại một Đền thờ ở Mecca, có hơn 360 chỗ thờ phượng, mỗi chỗ được thờ phượng trong một ngày của năm. Giáo thuyết của ông cũng đe dọa làm xáo trộn sự buôn bán bất hợp pháp và sự vô đạo đức của thời đại đó. Ma-hô-mét và môn đồ của ông bị trục xuất khỏi Mecca, nhưng họ đã tìm được nơi ẩn náu, tại Yathrib, một thành phố cách Mecca 270 dặm (430 km) về phía bắc. Cuộc Hejira (“Thiên di”) đến Yathrib vào năm 622 trở thành năm thứ nhất của lịch Hồi giáo. Nó được gọi là Anno Hegirae và năm 622 trở thành năm thứ nhất của lịch Hồi giáo (1 A.H). Về sau, tên thành Yathrib được đổi thành tên Medina, nghĩa là thành phố của vị tiên tri của Thượng Đế.

Ma-hô-mét trở thành một chính trị gia tài ba, lãnh tụ của thành Medina và là một chiến sĩ gan dạ, tất cả đều nhân danh Allah. Khi lần đầu tiên ông bắt đầu rao giảng, ông đã hi vọng người Do Thái tiếp đón, vì ông cảm thấy mình đang rao giảng cùng một đức tin với họ. Ông đã xem các tiên tri trong Cựu Ước và các sứ đồ trong Tân Ước là người Hồi giáo, vì họ thuận phục Đức Chúa Trời (Thượng Đế). Ông khen ngợi dân Do Thái và người Cơ Đốc là “Dân tộc kinh sách”, và nói rằng họ được an toàn trong ngày phán xét. Nhưng người Do Thái đã bác bỏ ông, vì ông đã gọi Chúa Jesus là một tiên tri và ông có những tư tưởng không chính xác về Cựu Ước. Sự bùng bổ cuối cùng xảy ra với người Do Thái là khi một người nữ Do Thái, bà Zainab, đã mời vị tiên tri nầy và bạn hữu của ông đến dùng bữa tối và đã cho họ ăn một con chiên con có tẩm thuốc độc. Mặc dầu Ma-hô-mét chỉ ăn rất ít thịt nầy nhưng ông đã chịu các tác dụng của nó suốt quãng đời còn lại của mình và ông đã qua đời vào lúc còn rất trẻ.

Dân chúng ở Mecca cũng đã tấn công chống lại ông nhưng các bạn hữu của ông ở Medina đến bảo vệ ông và đã đánh bại họ. Ông tiếp tục ở Medina trong tám năm, huấn luyện và dạy dỗ người của mình để làm sứ giả cho đức tin mình. Sau đó, ông quay lại Mecca và thành phố đã phục tùng ông mà không còn nhiều chống đối. Ông đã phá hủy một số hình tượng ở Kaaba, nhưng ông vẫn chừa lại hòn thiên thạch và tuyên bố Mecca là thánh địa của Thượng Đế. Ông đã chinh phục nhiều bộ tộc và nắm quyền kiểm soát trên các lãnh tụ Ả-rập. Những người nào không chịu nhận Hồi giáo có thể bị giết chết. Ông cảm thấy được xưng công bình bằng việc dùng bạo lực qua sự mặc khải của thiên sứ Gáp-ri-ên. Vào lúc ông qua đời năm 632 S.C (hay 10 A.H), Ma-hô-mét đã nắm quyền kiểm soát trên Mecca và toàn bộ bán đảo Ả-Rập.

Sau khi Ma-hô-mét qua đời, các caliph, tức các vị “kế nhiệm vị tiên tri” đã cai quản cộng đoàn và Hồi giáo đã mở rộng đến Pa-lét-tin, Ai-cập, Bắc phi và Ba-Tự. Có vài yếu tố dự vào sự bành trướng nhanh chóng của thế giới Hồi giáo. Khởi đầu, đó là sự kiện dân chúng đã sẵn sàng cho cuộc cải cách chính trị và tôn giáo. Thứ hai, toàn thể các cộng đồng đã bị lưỡi gươm Hồi giáo chinh phục. Thứ ba, những lãnh tụ Hồi giáo đã gây được lòng sốt sắng truyền giáo trong các tín đồ của họ. Thứ tư, và gần nhất, ý nghĩ thành công đã thấm vào người Hồi giáo đã được khích lệ thêm nhờ việc khám phá ra dầu hỏa và đã làm bành trướng rộng rãi Hồi giáo.

 

NHỮNG NIỀM TIN CỦA HỒI GIÁO

Iman tức “Đức tin Hồi giáo” được đặt cơ sở trên những lời dạy dỗ của Ma-hô-mét sau khi ông qua đời và đã được những người trong nhóm của ông biên soạn. Thần đạo học của Hồi giáo rất đơn giản, nhưng có nhiều niềm tin và tập tục đã được thêm vào trải qua nhiều năm. Đối với việc nghiên cứu của chúng ta, chúng ta sẽ xem xét Năm Trụ Cột của Hồi giáo, một số trong những giáo lý nổi bật của nó, các nơi chốn và những con người thánh thiêng và những tập tục quan trọng khác của đức tin người Hồi giáo.

 

Năm Trụ Cột Của Hồi Giáo

Năm giáo lý quan trọng nhất của đức tin Hồi giáo là Năm Trụ Cột của Hồi giáo. Nó đòi hỏi mọi người Hồi giáo phải biết và liên tục thuật lại và dạy dỗ.

 

Sự Xưng Nhận Đức Tin (“Shahadah ”)

Mọi người Hồi giáo công khai xưng nhận Allah là Thượng Đế duy nhất và Ma-hô-mét là tiên tri của Ngài. Dầu các tiên tri khác đều được nhìn nhận, nhưng Ma-hô-mét là tiên tri cuối cùng và vĩ đại nhất. Người Hồi giáo cũng tin nơi các thiên sứ, các hữu thể thuộc linh thi hành ý muốn của Allah, đó là một giáo thuyết vay mượn của Do thái giáo. Họ tin nơi sự sống lại của kẻ chết và ngày phán xét, khi đó những người trung tín với kinh Cô-ran sẽ được ban thưởng. Những ai không vâng theo sẽ bị hình phạt nơi địa ngục.

 

Sự Bắt Buộc Cầu Nguyện (“Salat ”)

Người Hồi giáo có bổn phận phải cầu nguyện riêng và cầu nguyện chung. Sự cầu nguyện riêng có thể thực hiện bất kỳ nơi đâu. Sự cầu nguyện chung được hiệu triệu từ tháp cao của nhà thờ Hồi giáo bởi một muezzin, tức một “người hiệu triệu”. Người ta không dùng chuông, vì theo truyền thuyết, Ma-hô-mét bị đau đớn vì nghe những tiếng giống như tiếng chuông trong những khải tượng của ông. Tiếng hiệu triệu để cầu nguyện được phát ra năm lần một ngày : lúc sáng sớm, lúc đúng ngọ, lúc ban chiều, lúc hoàng hôn, và sau khi màn đêm buông xuống. Trước tiên có nghi thức thanh tẩy bằng nước hoặc bằng cát của sa mạc. Những người thờ phượng đứng hướng mặt về Mecca và đọc chương thứ nhất của kinh Cô-ran. Kế đó họ quì gối, ngồi và đứng lên theo một công thức cố định, trong khi đó vẫn cứ đọc những lời kinh nguyện. Một cố gắng là thực hiện việc đến một nhà thờ Hồi giáo vào trưa ngày thứ sáu, đó là ngày sa-bát của người Hồi giáo, và vị Iman, tức “vị lãnh đạo” sẽ thuyết giảng một bài.

 

Bố Thí (“Zakat ”)

Mỗi người Hồi giáo bắt buộc phải góp một phần lợi tức của mình cho công tác bác ái hoặc cho người nghèo, và cho chi phí của nhà thờ Hồi giáo. Tỉ lệ phần trăm thay đổi tùy theo lợi tức đó kiếm được do việc làm ăn thuộc kỹ nghệ, nông nghiệp, hay thương mại. Nó nằm trong khoảng 2,5% đến 10%, nhưng nó là một thứ thuế buộc phải đóng. Những sự ban tặng tự ý khác được gọi là sadaga cũng có thể được ban tặng nếu muốn.

 

Lễ Kiêng Ăn Ramadan (“Sawm ”)

Trong thời gian Ramadan, thuộc tháng trăng thứ chín, mọi người thành nhân Hồi giáo buộc phải kiêng cữ ăn, uống và các sinh hoạt tình dục. Mỗi ngày từ lúc bình minh, cho đến sau lúc hoàng hôn, người ta cầu những bài kinh nguyện đặc biệt và đọc các khúc trong kinh Cô-ran. Việc ăn uống chỉ thực hiện sau lúc hoàng hôn. Vào cuối tháng, người ta tổ chức một lễ hội. Vì lịch Hồi giáo dựa theo các hiện tượng của mặt trăng nên các ngày tháng (nhật kỳ) thay đổi theo từng năm.

 

Hành Hương Đến Mecce (“Hajj ”)

Bắt buộc mỗi người nam đã thành nhân phải cố gắng hành hương đến Mecca một lần trong đời. Việc tham dự buộc phải thực hiện trong Dhu’l Hijja, tức là “tháng hành hương”. Hằng trăm hàng người đến đó bằng đi bộ,, bằng lừa, lạc đà, bằng xe buýt, xe hơi hoặc bằng máy bay. Đó là cao điểm của đời sống một người Hồi giáo. Trong thực tế, những ai đã từng đến đó được gắn thêm từ ngữ hajj vào tên của họ. Kinh Cô-ran có ghi rõ chi tiết về những gì phải mặc và phải làm ở tại Mecca. Họ cầu nguyện tại Kaaba, là nơi thờ phượng thiêng liêng của Hồi giáo, ở trong một cái sân của nhà lớn của Hồi giáo. Trong những ngày họ ở đó, những người hành hương sẽ viếng giếng Zam-Zam mà tin là cái giếng của A-ga và Ích-ma-ên. Vào ngày thứ mười của tháng trăng mười hai, “lễ hội sinh tế” đánh dấu chung kết mùa hành hương.

 

Những giáo lý nổi bật của Hồi giáo.

Hữu Thể Tối Cao.

Hồi giáo chủ trương một độc thần giáo khắt khe. Allah là một Thượng Đế cai quản toàn cõi vũ trụ. “Không có Thượng Đế nào khác ngoại trừ Allah”. Ngài là tương phản với đa thần giáo của Mecca và với Cơ Đốc Nhân là những người cho rằng Chúa Jesus là một phần trong ba ngôi Đức Chúa Trời. Người Hồi giáo cho rằng chỉ có một Thượng Đế duy nhất, toàn vẹn, vĩnh hằng và không thể phân chia. Kinh Cô-ran nói rằng: “Ngài cầm quyền tể trị trời đất. Ngài không chọn lựa một con trai nào và cũng chẳng có ai được dự phần với Ngài”. Allah là toàn tri và toàn năng. “Nầy! Chúa của người Allah, Đấng đã tạo dựng trời đất trong sáu ngày, sau đó Ngài đã lên ngôi trị vì”. Người Hồi giáo có chín mươi chín danh hiệu để gọi Allah và để ca ngợi nhiều thuộc tính của Ngài. Người Hồi giáo sùng đạo đọc thuộc lòng những danh hiệu nầy cũng như người công giáo đọc kinh lần chuỗi hạt vậy.

Người Hồi giáo cũng mô tả những tạo vật khác là các jinn, đó là những hữu thể trung gian giữa người và thiên sứ. Họ được tạo nên bằng lửa, một số là thiên thần hộ vệ làm ích cho con người, nhưng một số khác là các tà linh. Iblis, vị lãnh đạo các jinn, là một thiên sứ đã sa ngã, hoạt động giống như sa tan trong sách Gióp. Theo huyền thoại của người Hồi giáo, Iblis phải chịu trách nhiệm về việc sa ngã của A-đam.

 

Luật pháp (“Shari’a ”)

Theo quan điểm của người Hồi giáo về tôn giáo, luật pháp hay shari’a, có nghĩa là “con đường được biết rõ” là điều quan trọng nhất. Trong khi kinh Cô-ran nói về lòng nhơn từ và thương xót của Thượng Đế đối với tội nhân biết ăn năn, thì Hồi giáo lại quan tâm đến sự vâng phục nhiều hơn là sự tha thứ. Ma-hô-mét đã xem cả Torah và Phúc âm như là những luật pháp mà con người bị buộc phải vâng giữ. Theo luật của Hồi giáo, bổn phận của đức tin là chấp nhận những điều vị tiên tri đã nói mà không thắc mắc tại sao hoặc thể nào. Do đó, bất cứ một thắc mắc nào về thần đạo học của Hồi giáo, như đã có trong Cơ-Đốc-giáo, đều là sai và có thể xem là tà giáo. Vì lý do nầy, các học giả Hồi giáo đã tự cống hiến nhiều cho việc nghiên cứu luật pháp hay shari’a.

 

Sự Tiền Định

Vì người Hồi giáo tin quyết nơi quyền năng và sự tể trị của Thượng Đế nên họ chấp nhận bước lý luận tiếp theo, như chúng ta có thể mong đợi, đó là tin nơi sự tiền định và số mệnh. Tư tưởng nầy là: vì Đức Chúa Trời cai quản vũ trụ nên ý muốn của Ngài là tối cao. Cho dầu một người làm lành hay làm ác, được thành công hay thất bại, tất cả đều ở trong bàn tay của Thượng Đế. Ngài đã hoạch định tất cả mọi sự tiến triển như thế. Kinh Cô-ran nói:

Ngài biết ngươi rất rõ, khi Ngài đã tạo ra ngươi từ đất và dẫu khi ngươi chưa được hoài thai trong lòng mẹ ngươi. Thượng Đế muốn ai đi lạc thì Ngài dẫn và ai Ngài muốn đặt vào đường ngay thẳng là tùy ý Ngài. Ngươi sẽ không muốn được, trừ phi Thượng Đế muốn.

Người Hồi giáo không tin rằng một sự việc nầy gây ra một sự việc khác ví dụ như chúng ta không thể nó rằng nước làm cho chúng ta ướt. Chỉ khi nào Thượng Đế muốn chúng ta ở trong nước lúc bấy giờ chúng ta mới bị ướt! Trong hình thức cực đoan của nó, niềm tin nầy đã cướp đi sự tự do lựa chọn của con người và như thế họ không chịu trách nhiệm về hành động của mình. Họ chỉ là những con rối trong tay Thượng Đế. Một thành ngữ của người Hồi giáo là Insha’llah, nghĩa là “Nếu Thượng Đế muốn”. Nhưng không phải mọi người Hồi giáo đều mang cái quan niệm về số phận đến mức cực đoan như vậy. Một số người nói rằng Allah trong sự khôn sáng và lòng thương xót của Ngài, Ngài cho phép người ta lựa chọn trong những lãnh vực mà họ chịu phán xét. Theo quan niệm nầy, ít ra người ta có chút ít quyền tự do lựa chọn.

 

Sự Cứu Rỗi

Con đường cứu rỗi là sự đầu phục (islam) ý muốn tể trị của Thượng Đế. Kinh Cô-ran dạy rằng Thượng Đế cũng là quan án. Nó cảnh cáo người ta về một ngày phán xét là lúc công việc của họ sẽ nhận sự thưởng phạt xứng đáng. Bổn phận của con người là nhìn biết Thượng Đế, biết ơn Ngài về sự ban cho của Ngài, sống đúng theo mạng lịnh của Ngài và hy vọng về sự cứu rỗi cuối cùng. Vào kỳ chung kết, sự cứu rỗi ở trong tay của Thượng Đế sẽ được ban cho hay lấy lại. Không một người hồi giáo nào có thể nói rằng chắc chắn Thượng Đế sẽ cứu rỗi mình. Một khía cạnh khác của sự cứu rỗi là niềm tin cho rằng nếu một người Hồi giáo chết trong chiến trận vì đức tin Hồi giáo thì người đó sẽ được đi thẳng vào lòng của Ma-hô-mét. Chúng ta sẽ đề cập đến điều nầy sau.

 

Lai Thế Học (Eschatology) Của Hồi Giáo

Dường như môn lai thế học của người Do Thái và của người Cơ Đốc đã có tác dụng sâu xa trên Ma-hô-mét. Kinh Cô-ran nói rằng khi một người qua đời, thân thể của họ sẽ trở về đất và linh hồn sẽ bước vào một trạng thái ngủ cho tới ngày sống lại. Thiên sứ của Allah sẽ thổi kèn, đất sẽ nứt ra và thân thể sẽ được tái hợp với linh hồn. Một cuốn sách ghi chép về cuộc sống của mọi người sẽ được mở ra mỗi người sẽ bị phán xét theo công việc mình. Mọi người sẽ bước qua một chiếc cầu hẹp và bén như lưỡi gươm bắt ngang qua trũng địa ngục. Kẻ làm ác sẽ rơi vào sự tăm tối của họ còn người Hồi giáo sẽ đi ngang qua cách an toàn. Tuy nhiên, Thiên đàng là một lạc viên mà ở đó kẻ trung tín sẽ được thưởng mọi loại thỏa thích của thân xác. Điều tốt nhất là họ sẽ thấy Thượng Đế. Những kẻ bị rơi vào địa ngục sẽ phải chịu thống khổ.

 

Những Tập Tục Khác Của Hồi Giáo

Những Nơi Thiêng Liêng

Nhà thờ Hồi giáo (Mosque). Xuất xứ từ một từ ngữ Ả-rập thời cổ có nghĩa là “tự bảo vệ”, nhà thờ Hồi giáo là nơi hội họp để thờ phượng. Có rất nhiều nhà thờ Hồi giáo ở hầu hết các thành phố vùng Trung Đông và các nước Phương Đông. Ma-hô-mét đã ra chỉ dụ ngày thứ sáu là ngày thờ phượng chính thức của người Hồi giáo, cũng giống như ngày thứ bảy của người Do Thái và ngày Chủ Nhật của người Cơ Đốc giáo vậy. Muwzzin (Người Hiệu Triệu). Đứng trong tháp cao của nhà thờ và hiệu triệu người ta cầu nguyện năm lần một ngày. Trong thời đại tân tiến, sự hiệu triệu của ông được thay thế bằng một máy ghi âm.

Khu Kaaba. Bao gồm một kiến trúc lập phương bao quanh tảng thiên thạch màu đen. Tảng đá Kaaba được người ta tôn kính như là do Gáp ri ên đem tưd trời xuống. Khu Kaaba đã xây cất xong từ thời của Ma-hô-mét. Trong đó người ta đặt những ảnh tượng các thánh tích của ngoại giáo và các tranh ảnh. Một bản phúc trình nói rằng nó cũng có đặt tranh vẽ Chúa Jesus và bà Mari nữa. Giờ đây nó là trung tâm của đại đền thờ Hồi giáo ở Mecca, và nó là điểm tập trung của tất cả mọi sự thờ phượng của người Hồi giáo. Nó được đậy bằng một tấm nỉ đen giác vàng và một cánh cửa cẩn vàng rất ít được mở ra. Những người hành hương đã bào mòn một lối đi xung quanh nó trong những cuộc hành hương viếng thăm nơi thờ phượng thiêng liêng nầy.

Những Thành Phố Thiêng. Thành phố thiêng liêng nhất trong Hồi giáo rõ ràng là Mecca. Thành phố thiêng liêng thứ nhì đối với người Hồi giáo là Medina nơi mà Ma-hô-mét đã lánh ở đó trong vài năm. Sau Medina, thành phố thiêng liêng kế tiếp là Giê-ru-sa-lem. Nó có một nhà thờ Hồi giáo được gọi là Vòm Mái Vầng Đá (The Dome of The Rock), được xây bên trên một tảng đá lớn mà người ta cho rằng đó là địa điểm Áp-ra-ham đã dâng Y-sác cho Đức Chúa Trời.

 

Những Người Thánh Thiêng

Caliph. Sau khi Ma-hô-mét qua đời, những người lãnh đạo chính trị Hồi giáo được gọi là các Caliph. Họ không nhận được sự mặc khải từ trời mà được hướng dẫn bằng lời của vị tiên tri. Bốn vị Caliph đầu tiên được đề cập đến như là những vị “Caliph chính thống” vì họ đã được tuyển chọn trong nhóm người ban đầu của Ma-hô-mét.

Imam. Những người lãnh đạo thuộc dòng dõi Ali, bà con với Ma-hô-mét, được gọi là các Imam, có nghĩa là “gương mẫu”. Họ vẫn tồn tại giữa vòng người Shi’ites và nhiệm vụ của họ là hướng dẫn các giờ kinh nguyện và giải thích kinh Cô-ran trong các nhà thờ Hồi giáo. Họ không phải là giới tư tế mà chỉ là các thành viên của cộng đồng được lựa chọn vì lòng sùng kính của họ.

 

Tình Trạng Phụ Nữ.

Trước thời Ma-hô-mét, phụ nữ ở một tình trạng xã hội rất thấp trong xứ Ả-rập. Họ bị xem là nô lệ và là tài sản của người cha, người chồng hoặc của người anh. Họ có thể bị chồng ly dị bất cứ khi nào người đó muốn. Đôi khi các trẻ em gái bị giết chết. Ma-hô-mét đã nâng cao tình trạng của phụ nữ đến mức độ khá hơn, dù rằng chưa được bình đẳng với nam giới. Ma-hô-mét cho phép chế độ đa thê và ông đã cưới cho mình nhiều phụ nữ, một số trong đó là những góa phụ của những người Hồi giáo bị tử trận. Nhưng ông giới hạn số vợ cho người Hồi giáo là bốn người, để họ có thể chu cấp cho các người vợ đó.

 

Những Điều Cấm Kỵ Của Hồi Giáo

Nhiều điều cấm kỵ của Do Thái giáo đã được Hồi giáo chấp nhận. Người ta cấm ăn thịt heo và huyết nhưng được phép ăn thịt bò, cừu và dê, nếu con thú đó do những người cai trị của Hồi giáo giết chết. Cờ bạc và rượu cũng bị cấm và người ta tin rằng người Hồi giáo đã giới thiệu việc uống cà phê cho thế giới. Việc buôn bán để kiếm lời được cho phép, nhưng việc cho vay tiền để kiếm lãi là một tội lỗi.

 

Jihad, Tức “Cuộc Thánh Chiến ”

Ma-hô-mét dạy môn đồ của mình không dung nhượng tà giáo, hoặc họ phải nhận theo Hồi giáo, hoặc họ phải bị giết. Những đoàn khách thương của dân Mecca bị tấn công và tiền bạc cũng như những người theo đạo được mang về cho Hồi giáo. Ông gọi kiểu chiến tranh nầy là một nhiệm vụ tôn giáo. Thậm chí tình bà con cũng không quan trọng, và trong một cuộc tấn công vào đoàn buôn, người bà con theo tà giáo cũng bị giết. Chết trong Jihad, tức Thánh chiến, đem lại cho người Hồi giáo niềm hi vọng được trực chỉ vào ba-ra-đi Điều nầy cũng là lý do thích hợp cho những cuộc tự sát của một số người cuồng nhiệt cố giành chiến thắng cho đảng chính trị của họ trong những năm gần đây.

Những sự dạy dỗ của vị tiên tri nầy đã xuất hiện vào lúc thuận tiện và đã cung ứng cho thế giới Ả-rập một Thượng Đế mới, một niềm hi vọng mới và một hướng đi mới. Chúng ta có thể nghi vấn về một số điều dạy dỗ của ông, nhưng sự nhấn mạnh của ông về sự tể trị tối cao của Thượng Đế là một lẽ thật quan trọng.

 

NHỮNG SỰ TRUYỀN THÔNG CỦA HỒI GIÁO

Các tác phẩm của Ma-hô-mét sau một thời gian khoảng hai mươi năm được biên soạn thành kinh Cô-ran, một từ ngữ có nghĩa là “thuật lại”. Thiên sứ đã truyền cho Ma-hô-mét “thuật lại” sự mặc khải mà ông đã nghe. Những sự thuật lại trong tiếng Ả-rập được gắn liền với sự thờ phượng, cũng như người Cơ-Đốc giáo và người Do Thái thuật lại Kinh Thánh của họ vào những cơ hội trong tôn giáo. Kinh Cô-ran là cuốn Sách thánh dễ đọc và dễ ghi nhớ nhất trong số các kinh sách của các tôn giáo trên thế giới.

 

Nguồn Gốc Và Sự Tôn Kính

Người Hồi giáo tin rằng kinh Cô-ran chính là lời của Thượng Đế. Ma-hô-mét nói rằng những lời đó được thiên sứ Gáp-ri-ên phán vào tai của ông như một tiếng chuông rung lớn. Sứ điệp đó được ban cho khi ông đang xuất thần và khi ông đã thoát ra khỏi trạng thái đó, ông đã rất run rẩy và trở nên yếu ớt. Người ta tin rằng Ma-hô-mét có một thư ký tên là Zayd đã viết những lời của vị tiên tri nầy trên những mảnh da, giấy da, lá kè, trên đá hoặc thậm chí trên xương súc vật.

Vì một số người Hồi giáo giữ các mảnh của các tác phẩm nầy nên sau khi vị tiên tri qua đời. Caliph Uthman đã chỉ định một ủy ban dưới sự lãnh đạo của Zayd để biên soạn một bản được thẩm quyền hóa của kinh Cô-ran. Nó trở thành một cuốn sách dài bằng với cuốn Tân Ước. Mỗi chương được gọi là một sura và có một nhan đề được rút ra từ một chữ ở trong chương đó. Có 114 chương, chương đầu tiên được viết ra tại Medina và chứa những luật lệ dành cho người Hồi giáo và những lời cảnh cáo nghịch cùng kẻ thù của họ. Những sura sau là những sự kiện thấy được ban cho lần đầu tiên trong hang động ở Mecca. Chúng được sắp đặt theo độ dài, ngoại trừ có một sura ngắn là Fatihah (“mở đầu”) được đặt ở đầu và là một lời cầu nguyện xin sự hướng dẫn của Thượng Đế. Chương Fatihah được dùng trong các giờ cầu nguyện hằng ngày và trong các buổi lễ tôn giáo. Tất cả các sura ngoại trừ một chương đều bắt đầu với những chữ Bismillah Alrahim nghĩa là “Nhân danh Thượng Đế, Đấng Nhân từ, Đấng Thương xót”.

Lời tuyên bố về sự soi dẫn của kinh Cô-ran thì khác với của Kinh Thánh, vì Ma-hô-mét nói rằng ông không có phần gì trong sự mặc khải; ông chỉ giống như một ngòi viết trong tiến trình trước tác. Ông không bảo rằng sứ điệp của ông xuất ra từ một nguồn thần linh. Các sự mặc khải khác cũng được xuất ra từ chính một nguồn đó, chẳng hạn như Injil (“Phúc Âm”) của Chúa Jesus, Zabur (“Thi thiên”) của Đa-vít và Torah (“luật pháp”) của Môi se. Ông tuyên bố rằng mỗi thứ đều là một sự mặc khải chân thật.

Người Hồi giáo đã rất tôn kính kinh Cô-ran là cuốn sách thiêng liêng nhất của họ. Họ cẩn thận không bao giờ để nó xuống đất hoặc để nó đụng tới một vật gì ô uế. Một cao vọng là ghi nhớ được toàn bộ kinh Cô-ran và thuật lại nó trong tháng kiêng ăn Ramadan. Trong các học đường ở khắp cả thế giới Hồi giáo, trẻ em được dạy dỗ về nó và nhiều em ghi nhớ những chỗ hay của nó cho dù chúng chẳng hiểu chữ nghĩa của nó. Nhiều bản sao kinh Cô-ran đã được viết bằng tay rất đẹp và được đóng bằng những kiểu đẹp nhất của nghệ thuật đóng sách. Những lời của nó thường được dùng để trang trí trong các nhà thờ Hồi giáo, các trường học, các lăng tẩm và những công trình xây cất khác. Một số khúc được dùng làm bùa chú để trừ khử tà linh và tật bệnh. Vì kinh Cô-ran được ban cho Ma-hô-mét ở Ả-rập nên nó bị cấm dịch. Dù sao chăng nữa, cũng đã có những bản sao được in ra bằng các ngôn ngữ khác.

 

Sự Mâu Thuẫn Và Sự Không Chính Xác

Một đặc tính của Hồi giáo tạo cho người Cơ Đốc nhiều khó khăn là những chỗ mâu thuẫn trong kinh Cô-ran. Bằng chữ “những chỗ mâu thuẫn” chúng tôi có ý muốn nói rằng có một số câu đã trái ngược lại với những câu khác. Ví dụ như, lúc đầu Ma-hô-mét công nhận những niềm tin của người Do Thái là tương tự với của ông, nhưng khi người Do Thái bác bỏ ông thì ông đã thấy một khải tượng đặc biệt mà sau đó ông đã nói rằng những người khác “đã giải sai Kinh Thánh”. Sura 2:150 nói rằng Ma-hô-mét ra lịnh cho môn đồ ông hướng về Giê-ru-sa-lem để cầu nguyện. Nhưng về sau, trong một khải tượng thiên sứ bảo ông phải cầu nguyện hướng về Mecca (Sura 2:125). Các khải tượng của Ma-hô-mét đã thay đổi vì cớ sự tiện lợi không thể nào do Thượng Đế, là Đấng không thay đổi, soi dẫn được.

Bất cứ ai đã đọc kinh Cô-ran đều nhận thấy nó tương tự như Kinh Thánh, điều đó chứng tỏ rằng Ma-hô-mét đã dựa vào Thánh Kinh để viết nhiều tác phẩm của mình. Các môn đồ của ông phủ nhận điều nầy bằng cách nói rằng Ma-hô-mét là người mù chữ. Ý tưởng cho rằng ông đã sao chép các khải tượng của mình từ Thánh Kinh gây xúc phạm đến những xúc cảm tôn giáo của bất cứ người Hồi giáo nào. Nhưng những mâu thuẫn đã xảy ra trong một biến cố. Ví dụ như ông viết rằng Ha man trong câu chuyện của Ê-xơ-tê làm việc cho Pha-ra-ôn trong thời kỳ xuất hành (Sura 28:38)! Người Hồi giáo trả lời rằng kinh Cô-ran trình bày một khải tượng khác về Đức Chúa Trời, về con người và về thế giới. Nếu có những sự mâu thuẫn thì họ sẽ nhận kinh Cô-ran là đúng.

Sự hiểu biết của Ma-hô-mét về những niềm tin khác có thể đến từ các người vợ của ông, một người trong số họ là một phụ nữ Do thái và một người khác là người Cơ-Đốc-giáo. Nhưng, theo lời truyền khẩu, sự giải thích của ông về giáo lý Cơ Đốc là không chính xác. Trong Sura 5:77, ông nói rằng người Cơ Đốc thờ phượng ba Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha, Đức bà Mari là Đức mẹ và Chúa Jesus là Đức Chúa Con! Kinh Cô ran ông công kích chức vụ làm con của Chúa Jesus, nói rằng: “Thượng Đế không sinh ra ai và cũng không do ai sinh ra”. Trong Sura 4:156, khi đề cập đến Chúa Jesus, ông nói: “Họ không giết Ngài và không đóng đinh Ngài. Họ chỉ làm trên cái hình ảnh (hay cái ngoại diện -- likeness) của Ngài mà thôi. Họ đã không thực sự giết Ngài”. Tuy nhiên, kinh Cô ran tuyên bố rằng Chúa Jesus được sinh ra bởi một nữ đồng trinh, đã làm những phép lạ, là Đấng vô tội, đã thăng thiên về trời và sẽ trở lại vào kỳ sau rốt.

Sẽ luôn luôn có những nghi vấn về nguồn gốc của kinh Cô ran và những điều mâu thuẫn của nó, tuy nhiên, chúng ta hãy trân trọng người đáng trân trọng. Ma-hô-mét đã cung ứng cho dân Ả-rập một cuốn kinh sách mà nó đã làm cho họ biết được sự oai nghi và quyềp phép của một Thượng Đế thật.

 

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỒI GIÁO

Hồi giáo đã xuất hiện đúng vào lúc dân Ả-rập cần một lực lượng đoàn kết. Ả-rập bị xâu xé bằng duy linh thuyết, sự thờ lạy hình tượng và sự vô đạo đức. Đế quốc Byzantine gần sụp đổ vì sự băng hoại và sự cai trị sai lầm, và người Ba tư đã sẵn sàng để thay thế.

Những Thành Tích Chính Trị

Sau khi Ma-hô-mét qua đời, người Hồi giáo thành một lực lượng quân sự, và trong vòng một trăm năm, họ đã chinh phục xứ Pa-lét-tin, Ai cập và quét qua Bắc Phi. Năm 711, họ tiến vào Tây Ban Nha và năm 732, họ vượt dãy núi Pyrenee, nhưng họ đã bị Charles Martel đẩy lùi tại trận chiến Tours (nước pháp). Nhưng vì trận chiến tranh nầy, cơ nghiệp tôn giáo của Châu Âu có thể đã là của Hồi giáo hơn là Cơ Đốc giáo. Người Hồi giáo vẫn ở lại Tây Ban Nha cho đến thế kỷ thứ mười lăm.Vào thế kỷ mười một và mười hai, họ đã quét khắp vùng Trung Đông và di chuyển vào Ấn độ, Trung Hoa và quần đảo Thái Bình Dương. Năm 1453, thành Constantinople, thủ đô của đế quốc Byzantine rơi vào tay của quân Ottoman Thổ nhĩ kỳ, họ là người Hồi giáo, và thành phố nầy đã được gọi là Istanbul. Cộng đoàn Hồi giáo lớn nhất ngày nay là ở In-đô-nê-si-a với ít nhất 150 triệu tín đồ.

 

Chính Thể Caliph (The Caliphatre)

Chính thể Caliph (sự cai trị do các vị Caliph) nguyên thủy gồm có bốn vị Caliph và kéo dài từ năm 632 đến năm 660. Các vị Caliph là những vị kế nhiệm Ma-hô-mét và họ đã cai trị như là những người cầm đầu thuộc linh và thuộc đời nầy của Hồi giáo. Họ là Abu Bakr, Umar, Uthman và Ali, là những đồng chí thân cận nhất của Ma-hô-mét Abu Bark đã qua đời khoảng hai năm sau khi được tuyển chọn. Umar và Uthman bị những người cấp tiến sát hại. Ali, con rể của vị tiên tri, chồng của Fatima, bị một người bà con sát hại. Các vị Caliph nầy đã lần lượt cai trị như những ông vua và đã dời đô về Đa-mách, sau đó lại dời đô về Baghdad. Các vị Caliph Abbasid (con cháu của Abbas, chú của Ma-hô-mét --ND) cai trị tại Baghdad từ năm 750 đến 1258 với sự hào nhoáng và huy hoàng và dưới sự cai trị của họ, Hồi giáo đã đạt đến thời đại hoàng kim của nó. Người thổ nhỉ kỳ Ottoman, cai trị từ thế kỷ thứ mười lăm, đã chọn tước hiệu Sultan tương đương với tước hiệu Caliph cũng đã cáo chung.

 

Các Nhánh Giáo Phái Trong Hồi Giáo

Người kế nhiệm Ma-hô-mét không thể là một tiên tri khác vì kinh Cô-ran đã tuyên bố rằng Ma-hô-mét là “Ấn tín của Các Tiên Tri”. Một số tín đồ cảm thấy vị Caliph nầy nên được chọn từ trong toàn cộng đồng Hồi giáo. Một số khác lại trung thành với dòng họ Umayyad ở Mecca. Một số khác nữa lại ủng hộ con rễ của Ma-hô-mét, là Ali. Với việc tuyển chọn Ali, sự căng thẳng đã bùng nổ trong Hồi giáo. Một cuộc bạo loạn do hai đồng chí và vợ góa của vị tiên tri, bà Aisha, cầm đầu. Trong một trận chiến đẫm máu xảy ra sau đó, mười ngàn người Hồi giáo đã bị giết chết trước khi Ali giành được thắng lợi. Nhưng không bao lâu sau đó, Mu’aviya, một người bà con của Uthman, đã chống đối Ali và trong cuộc chiến đấu nầy Ali đã bị hạ sát.

 

Phái Sunni

Những người khăng khăng về việc tuyển chọn người kế nhiệm giữa vòng các đồng chí của vị tiên đã trở thành phái Sunni. Họ cảm thấy rằng bốn vị Caliph nguyên thủy đã biết Sunna (“đường lối” hay “tập quán”) của vị tiên tri, do đó người Hồi giáo nên theo gương của họ. Họ đã triển khai một hệ thống luật pháp cho cộng đồng, tức Shari’a, để giữ nhóm người nầy lại với nhau. Bốn trường phái của luật lệ Hồi giáo đã được mở ra, nhưng tất cả các trường phái nầy đều giữ bốn điều cơ bản của Shari’a. Những điều nầy là kinh Cô-ran, Hadith (“Các truyền thống của Hồi giáo”), Ijma (“Thỏa ước của cộng đồng người Hồi”) và Q’yas (“Xử dụng sự tương tự”). Bốn nhóm nầy cùng nhau được gọi là phái Sunni. Họ vẫn là nhóm giáo phái lớn nhất, hầu như chiếm 90 phần trăm của toàn cộng đồng người Hồi giáo.

 

Phái Shi’ites

Một nhóm người khác vẫn trung thành với Ali, con rể của Ma-hô-mét. Họ được gọi là phái Shi’ties (xuất xứ từ chữ Shi’a nghĩa là “Đảng phái”). Họ cảm thấy rằng tất cả các vị Caliph đều nên là con cháu của Ali. Một nhóm người được biết dưới tên Kharijis, tức “người không phe phái”; tách ra khỏi nhóm người ủng hộ Ali và một số họ vẫn còn tồn tại ở Zanzibar và giữa vòng người Berber ở Bắc Phi. Nhóm Kharijis là nhóm cấp tiến, họ nói rằng những người không theo đường lối của họ thì tệ hơn người ngoại đạo và đáng bị giết trước mắt. Chính Ali đã bị một người cuồng tín của nhóm Kharihis hạ sát. Với cái chết của Ali, kẻ thù của ông là Mu’awiya đã trở thành một Caliph và dòng họ ông đã nắm giữ chế độ Caliph gần như suốt một thế kỷ.

Đảng phái Shi’ites trở thành nhóm mạnh nhất giữa vòng người Ba tư. Họ xem Ali như là sứ giả của Thượng Đế và còn quan trọng hơn cả chính Ma-hô-mét nữa, thậm chí họ xem ông là Thượng Đế nhập thể. Họ nói rằng một ánh sáng thần ở nơi Ali và được truyền sang cho con cháu ông, nhờ ánh sáng nầy mà họ được giữ gìn khỏi mọi sai lầm hay tội lỗi. Phái Shi’ites xử dụng tước hiệu Imam cho con cháu của Ali. Sau khi qua đời, một vài nhóm người chính xưng họ là con cháu của ông. Những người nầy bao gồm nhóm người Ismailis, họ chỉ chấp nhận có bảy vị Imam thôi và vì vậy họ được gọi là Nhóm Bảy (seveners). Phái Druze ở Li ban, Sy ri và Pa-lét-tin là thuộc nhóm Ismailis và Aga Khan là lãnh tụ của họ ngày nay. Nhóm người thứ hai là nhóm Zaydis, là một giáo phái nhỏ hơn, được thấy ở Yemen ngày nay. Nhóm Mười hai (Twelvers) tin có mười hai vị Imam. Tuy nhiên vị Imam thứ mười hai đã biến mất vào năm 878 S.C. Người Shi’ites tin rằng ông đã tự ẩn mình và sẽ hiện ra trở lại thành Mahdi (“người được trông đợi”). Ông sẽ đem lại một thời kỳ công chính và hòa bình trước khi có sự phán xét cuối cùng. Ngày nay, nhóm Ayatollas là nhóm được người ta biết đến như là Nhóm Mười Hai.

 

Phái Sufi

Phái Sufi đã nổi lên để đáp ứng cho Hồi giáo chính thống. Từ ngữ nầy xuất xứ từ chữ Suf, có nghĩa là một chiếc áo len thô sơ mà các nhà sư hay các vị ẩn sĩ mặc. Phái Sufi khởi dậy vào thế kỷ thứ tám như là những nhà thần bí phản ứng lại với sự thế gian của các nhà lãnh đạo Hồi giáo. Họ tìm kiếm một kinh nghiệm cá nhân về thần linh mà họ đã thấy ở trong kinh Cô-ran và ở nơi Ma-hô-mét. Họ được lãnh đạo bởi vị Shaykks của họ, họ nhấn mạnh đến tình yêu đối với Thượng Đế và tình yêu của Ngài đối với con người, và họ phấn đấu để được kết hợp với Thượng Đế hay là được hấp thu vào Ngài. Họ hi vọng đạt được điều nầy nhờ sự tu hành, sự xuất thần và sự niệm tụng một Dhikr, tức “danh hiệu của Thượng Đế”, giống như câu thần chú trong Ấn độ giáo. Một số người dùng sự nhảy nhót hay nói những tiếng lạ tai. Một số người, qua việc tiếp xúc với những người thánh, nói rằng họ đã nhận được barakah (“phước hạnh hay sự thánh khiết”) từ nơi họ. Phái Sufi được thấy giữa vòng người Shi’ites cũng như người Sunni và họ cho rằng họ kết hợp giáo lý Hồi giáo với kinh nghiệm về Thượng Đế. Phái Sufi đã được nhiều người qui đạo theo Hồi giáo tại Phi Châu, nhưng họ bị cáo buộc về sự cuồng tín và những sự cực đoan thuộc thể của họ.

 

Phái Bahai

Những nhóm giáo phái tiếp tục phát triển trong Hồi giáo. Tại Iran, vào thế kỷ thứ mười chín, một nhân vật xuất hiện tự xưng là Bab Ud Din, nghĩa là “cửa đức tin”, và là người tiền hô cho Đấng được trông đợi. Ông đã giảng về những sự cải cách tôn giáo và có đông đảo người theo ông. Nhưng khi ông cho các tác phẩm của mình là bình đẳng với kinh Cô-ran thì ông bị cáo buộc là tà giáo và bị kết án tử hình vào năm 1850. Một trong số các môn đồ của ông tự xưng mình là Đấng được trông đợi. Lấy danh hiệu Baha’Ulaah (“Vinh quang của Thượng Đế”), phong trào của ông đã trờ thành đạo Bahai. Người Thổ nhĩ kỳ đã giam ông, nhưng ông đã gởi các tác phẩm của mình ra ngoài cho phần còn lại của thế giới. Ông đề xướng một quan niệm rộng rãi về sự hiệp một của Thượng Đế và về sự đoàn kết mọi tôn giáo, vì mỗi tôn giáo đều có một số chân lý và trong số các chân lý đó giáo lý Bahai của ông là cao siêu nhất. Giáo phái nầy đã lan rộng khắp thế giới Hồi giáo và ở tại các quốc gia khác, kể cả Anh Quốc và Hiệp chủng quốc Hoa kỳ.

 

Phái Ayatollahs

Vào hậu bán thế kỷ thứ hai mươi, có một phong trào hướng về những niềm tin cổ truyền của Hồi giáo. Vua Shah ở Iran muốn biến quốc gia mình thành một nước Nhật bản ở Trung đông, nhưng những nhà lãnh đạo tôn giáo chống lại tư tưởng của ông và họ bị gọi là Ayatollahs (“Dấu hiệu của Thượng Đế”). Giáo chủ Ayatollahs Khomeini đã trốn sang Paris, nhưng ông đã quay trở lại Iran vào năm 1979 và lật đổ vua Shah. Chế độ của ông lại còn đàn áp hơn chế độ của vua Shah nữa, bao gồm vô số cuộc hành quyết và hành hạ những kẻ chống đối ông. Giáo phái Bahai cũng bị bắt bớ nhiều và hằng ngàn người phải trốn khỏi nước. Phản ứng của những nhà chính trị và văn hóa theo Hồi giáo là thúc đẩy lòng trung thành đối với các nguyên tắc của Hồi giáo và loại bỏ tất cả mọi hệ thống phi Hồi giáo trong xã hội.

 

Nghệ Thuật Của Hồi Giáo

Hồi giáo đã đem lại cho thế giới một hình thức nghệ thuật mới mà nó đã lưu dấu trên ngành kiến trúc của nhiều quốc gia. Kiểu cách và màu sắc của nó là khác biệt và rất đẹp, đáng được các độc giả nghiên cứu.

 

Hồi Giáo Và Y-sơ-ra-ên

Mục tiêu chính của hoạt động chính trị của người Hồi giáo là tiêu diệt quốc gia Y-sơ-ra-ên của phong trào Si-ôn. Có nhiều người Do Thái ở tại Y-sơ-ra-ên hơn là người Hồi giáo, và điều xúc phạm đối với người Hồi giáo là thành Giê-ru-sa-lem do một chính quyền Do Thái cai trị mà chính quyền đó lại tích cực mở rộng phong trào Si-ôn. Tình trạng nầy lại càng trầm trọng thêm do việc Y-sơ-ra-ên đối xử tàn nhẫn với những người Ả-rập ở Pa-lét-tin và sự ủng hộ của các nước theo Cơ Đốc giáo đối với Y-sơ-ra-ên. Kẻ thù mới được nhận dạng chung với kẻ thù cũ, và các nước theo Hồi giáo đã bị thúc đẩy vào một liên minh chặt chẽ hơn để chống lại cái mà người Iran gọi là “Đại Qủy Dữ” (The Great Satan) -- Đó là Hoa kỳ và các nước đồng minh ủng hộ phong trào Si-ôn.

Để kết luận, chúng ta hãy nhớ rằng Hồi giáo đã cung ứng cho một xã hội tuyệt vọng một niềm hi vọng, một sự đoàn kết và một đức tin nơi Thượng Đế. Nó kết hợp cõi thuộc linh với cõi đời tạm và đã trở thành một phần quan trọng của cộng đồng nầy, của nền văn hóa của nó và của mọi phương diện của đời sống. Giờ đây, Hồi giáo đang tự mở rộng bằng mọi phương tiện cho mục đích của nó và những thành tựu của nó thật có ý nghĩa, nhất là ở vùng phụ cận sa mạc Sahara tại Phi Châu. Cả hồi giáo và Cơ Đốc giáo đã giành được thắng lợi nơi tôn giáo cổ truyền, được trợ giúp bằng những sự thay đổi chính trị và thương mại hiện đại. Trong thực tế, chúng đang tiến tới với một mức độ nhanh nhất so với bất cứ tôn giáo nào trên thế giới ngày nay.

 

ĐÁNH GIÁ VỀ HỒI GIÁO

Những Điểm Mạnh Của Hồi Giáo

·        Người Hồi giáo có một niềm tin vững vàng nơi Thượng Đế và quyền tể trị tối cao của Ngài.

·        Người Hồi giáo đã có được một sự đoàn kết chặt chẽ căn bản xoay quanh niềm tin nơi Thượng Đế và kinh sách của họ.

·        Người Hồi giáo tin rằng Thượng Đế giàu lòng thương xót và nhân từ.

·        Người Hồi giáo biết coi trọng ý muốn của Thượng Đế.

·        Họ tin có một ngày phán xét các công việc của mỗi người.

·        Mỗi tín đồ đòi hỏi phải đọc kinh cầu nguyện hằng ngày.

 

Những Điểm Yếu Của Hồi Giáo

·        Hồi giáo đã có một niềm tin cực đoan nơi quyền tể trị và ý muốn độc đoán của Thượng Đế mà nó dẫn đến thuyết định mệnh.

·        Dầu tình trạng phụ nữ được nâng cao nhưng nó vẫn còn thấp kém. Hồi giáo cho phép các tín đồ có nhiều vợ.

·        Người Hồi giáo phải tìm sự cứu rỗi của mình bằng việc làm.

·        Người Hồi giáo không có sự bảo đảm nào về một cứu Chúa khỏi tội lỗi hay sự sống đời đời trong hiện tại.

·        Lòng tôn kính đốivới kinh Cô-ran và tảng đá Kaaba là kế sau sự thờ hình tượng.

·        Các kinh sách có nhiều chỗ mâu thuẫn.

·        Chấp nhận việc thâu thập tín đồ bằng sức mạnh.

·        Tương lai được hứa hẹn chỉ là sự hưởng thụ nhục dục.

 

Định Giá Các Niềm Tin Hồi Giáo

Giờ đây, chúng ta sẽ đánh giá một số niềm tin của Hồi giáo nhìn theo quan điểm của Thánh Kinh và lưu ý đến những nhịp cầu nối liền những niềm tin đó với lẽ thật về Đấng Christ và sự sống đời đời.

 

Đề Tài: Hữu Thể Tối Cao

Niềm Tin Của Hồi Giáo Về Thượng Đế. Người Hồi giáo tin nơi Thượng Đế vĩnh hằng, khôn sáng, toàn năng, được gọi là Allah, là Đấng nhân từ và thương xót. Nhưng Ngài là một Thượng Đế đáng sợ. Họ phủ nhận Ba Ngôi, họ tin rằng đó chỉ là ba thượng đế. Họ tin rằng Thượng Đế không có con nên họ không gọi Thượng Đế là “Cha”.

 

Nhịp Cầu Dẫn Đến Đức Tin. Nếu Thượng Đế là nhân từ thì con người có thể thông công với Ngài. Tình yêu thương là bản tính trọng tâm của Thượng Đế. Quyết không có điều sợ hãi trong tình yêu thương. Sự yêu thương mà không thể chia xẻ cho nhau thì không thể là sự yêu thương. Chúng ta yêu Ngài vì Ngài đã yêu chúng ta trước. Chúng ta là con cái của Ngài nhờ sự lựa chọn và chúng ta có quyền gọi Ngài là Cha của chúng ta. Chúng ta không nói rằng Chúa Jesus là Thượng Đế thứ hai và Đức Thánh Linh không phải là Thượng Đế thứ ba. Nhưng Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh là ba ngôi hiệp một Đức Chúa Trời, là tam vị nhất thể.

 

Lẽ Thật Kinh Thánh

IGi 3:1, 24. “Hãy xem Đức Chúa Cha đã tỏ cho chúng ta sự yêu thương dường nào mà cho chúng ta được xưng là con cái Đức Chúa Trời. Ai vâng giữ các điều răn Ngài thì ở trong Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời ở trong người ấy”.

IGi 4:16, 18 “Đức Chúa Trời tức là sự yêu thương, ai ở trong sự yêu thương là ở trong Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời ở trong người ấy quyết chẳng có điều sợ hãi trong sự yêu thương, nhưng sự yêu thương trọn vẹn thì cất bỏ sự sợ hãi.

 

Đề Tài: Hồi Giáo Và Chúa Jesus

Niềm Tin Của Hồi Giáo. Người Hồi giáo xưng Chúa Jesus là một vị trong số các tiên tri chớ không phải là con của Thượng Đế, vì xưng Thượng Đế là “Cha” là một sự phạm thượng, điều đó chứng tỏ rằng Ngài có vợ. Nhưng kinh Cô-ran nói rằng Chúa Jesus sinh ra bởi đồng trinh Ma ri và là Đấng Mê si của Dân Do Thái. Ma-hô-mét đã nói rằng Chúa Jesus không sống lại từ trong kẻ chết mà Ngài có vẻ như chịu chết trên thập tự giá và Ngài vẫn còn sống, đã thăng thiên về thiên đàng.

 

Nhịp Cầu Dẫn Đến Đức Tin. Sự ra đời bởi nữ đồng trinh là một nhịp cầu tốt để dẫn đến lẽ thật về Chúa Jesus. Nếu Ngài đã được sinh ra bởi nữ đồng trinh Ma-ri, thì Ngài phải là Đức Chúa Trời. Thánh Kinh nói rằng Ngài là Đức Chúa Trời trở nên xác thịt. Ngài đãthật sự đóng đinh, vì Ngài phải chịu chết đền tội cho thế gian. Việc Ngài có vẻ như chịu chết chỉ là một sự lừa dối. Ma-hô-mét đã chết và vẫn chết. Chúa Jesus sống lại và vẫn đang sống. Nếu Ngài đã không sống lại thì chúng ta vẫn cứ ở trong tội mình. Sự sống lại của Ngài đã chứng tỏ thần tánh của Ngài.

 

Lẽ Thật Kinh Thánh

Gi 1:1-3, 14 “Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Muôn vật bởi Ngài làm nên... Ngôi Lời đã trở nên xác thịt ở giữa chúng ta. Chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con Một đến từ nơi Cha”.

ICo 15:17 “Nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì đức tin anh em cũng vô ích, anh em vẫn còn ở trong tội lỗi mình”.

Ro 4:25 “Ngài đã bị nộp vì tội lỗi chúng ta, và sống lại vì sự xưng công bình của chúng ta”.

 

Đề Tài: Kinh Sách

Niềm Tin Của Hồi Giáo. Ma-hô-mét đã tuyên bố rằng sứ điệp của ông là một sự mặc khải từ Thượng Đế thông qua thiên sứ Gáp-ri-ên. Kinh Cô-ran là khuôn mẫu cho đời sống và cho sự thờ phượng của người Hồi giáo. Họ không công nhận một kinh sách nào khác. Nếu có những sự khác biệt xảy ra thì những kinh sách khác phải được điều chỉnh chứ không phải kinh Cô-ran.

 

Nhịp Cầu Dẫn Đến Đức Tin. Đụng đến kinh sách của một dân tộc là một vấn đề rất tế nhị, nhất là trong trường hợp kinh Cô-ran, vì các tín đồ của nó sẵn sàng chiến đấu, thậm chí có thể giết chóc để bênh vực nó. Tuy nhiên, những sự mâu thuẫn của nó đã tạo ra mối nghi ngờ về tính hiệu lực của cuốn sách nầy. Vị thiên sứ nầy có biết những sự kiện đó không? Vị tiên tri đã trích dẫn Thánh Kinh cách sai lạc. Tại sao ông không trở lại với vị thiên sứ để xin sự mặc khải nhằm làm cho thích hợp những sự thay đổi cần thiết? Một Thượng Đế lầm lỗi và hay đổi ý thì không phải là Thượng Đế mà chúng ta phục sự.

 

Lẽ Thật Kinh Thánh.

IIPhi 1:21 “Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động, mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời”.

Mal 3:6 “Vì ta là Đức Chúa Trời, ta không hề thay đổi”.

Kh 22:18-19 “Tôi ngỏ cho kẻ nào nghe lời tiên tri trong sách nầy. Nếu ai thêm vào sách tiên tri nầy điều gì, thì Đức Chúa Trời sẽ thêm cho người ấy tai nạn đã ghi trong sách nầy, và kẻ nào bớt điều gì trong những lời ở sách tiên tri nầy, thì Đức Chúa Trời sẽ cất lấy phần họ về cây sự sống và thành thánh mà đã chép ra trong sách nầy”.

 

Đề Tài: Sự Tiền Định

Niềm Tin Của Hồi Giáo. Ma-hô-mét đã dạy rằng Thượng Đế nắm quyền tể trị, Ngài muốn cứu ai thì cứu, Ngài muốn đoán phạt ai thì Ngài đoán phạt. Ngài đã định nó xảy ra như thế vì Ngài là Đấng Toàn Tri. Nhưng không có ai biết được số phận của mình cho đến lúc người ấy qua đời. Cả điều ác lẫn điều thiện đều xuất phát từ Thượng Đế.

 

Nhịp Cầu Dẫn Đến Lẽ Thật. Tin rằng ý muốn của Đức Chúa Trời là độc đoán là loại bỏ đi quyền tự do lựa chọn của con người. Nếu Đức Chúa Trời cứu người nầy và đoán phạt người kia chỉ vì Ngài muốn như thế thì Ngài chẳng phải là Đấng nhân từ. Điều đó sẽ làm cho Ngài thành một nhà chuyên chế và con người chỉ là một con người máy. Như thế thì thật là thất vọng! Đức Chúa Trời của chúng ta cho mọi người có cơ hội như nhau để tiếp nhận Ngài hay chối bỏ Ngài. Hễ ai muốn thì có thể được cứu. Nó tùy thuộc sự lựa chọn của mỗi người.

 

Lẽ Thật Kinh Thánh

Ro 2:11 “Vì Đức Chúa Trời chẳng vị nể ai đâu”.

Gi 3:17 “Vả, Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài xuống thế gian, chẳng phải để đoán xét thế gian đâu, nhưng hầu cho thế gian nhờ con ấy mà được cứu”.

IIPhi 3:9 “Chúa... không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn”.

Gios 24:15 “Nếu chẳng thích cho các ngươi phục sự Đức Giê-hô-va, thì ngày nay hãy chọn ai mà mình muốn phục sự...”

 

Đề Tài: Sự Cứu Rỗi

Niềm Tin Của Hồi Giáo. Theo Hồi giáo, sự cứu rỗi được đặt cơ sở trên việc làm và trên sự đầu phục của một người theo ý muốn của Allah. Người ấy phải tuân theo Năm Trụ Cột và Shari’a (luật pháp) để hưởng được sự sống đời đời. Chối bỏ những điều đó là có tội và dựa trên cơ sở nầy mà người đó sẽ chịu phán xét và hình phạt.

 

Nhịp Cầu Dẫn Đến Đức Tin. Nếu sự cứu rỗi được đặt cơ sở trên việc làm thì ai sẽ được cứu? Chỉ có những người làm việc tốt nhất thôi sao? Chẳng có ân điển gì đối với những người không thể giữ luật pháp sao? Như vậy không phải là một Đức Chúa Trời của sự thương xót! Nếu một người thực hiện Năm Trụ Cột nhưng lại có lòng ác, thì công việc đó có cứu được người ấy không? Nếu có, thì như vậy sẽ không phải là một Đức Chúa Trời công bình Đức Chúa Trời đã ban Con Ngài để cứu chuộc chúng ta khỏi luật pháp. Bất cứ ai muốn, thì có thể được cứu bây giờ và họ biết rõ điều đó!

 

Lẽ Thật Kinh Thánh

Ga 4:4-5 “Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài... để chuộc những kẻ ở dưới luật pháp, và cho chúng ta được làm con nuôi Ngài”.

Gi 5:24 “Ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống”.