Tìm kiếm

Lời Chúa cho bạn hôm nay:

OpenBible Ta ban cho nó sự sống đời đời; nó chẳng chết mất bao giờ, và chẳng ai cướp nó khỏi tay ta. Cha ta là Đấng lớn hơn hết đã cho ta chiên đó, và chẳng ai cướp nổi chiên đó khỏi tay Cha. Ta với Cha là một. Giăng 10:28-30

Goforth, Jonathan

GOFORTH, JONATHAN

(1859-1936)

Nhận xét về Jonathan Goforth người viết tiểu sử ông đã hạ bút thế này: "Hãy chú ý vào những từ "Kích thích" trong từ điển mà đây là từ mà chúng ta dùng định nghĩa cho một người hăng hái đến độ "đam mê đôi khi không tránh khỏi lầm lỗi". Tác giả trên nói: "Tôi chỉ đồng ý tính chất đam mê (hơi quá khích) của ông Goforth, còn lầm lỗi thì không"

Nếu có một người nào từng có niềm say mê đến độ hăng say bùng cháy phát xuất từ trái tim, nhất là với sứ mạng truyền giáo của mình, thì người đó chính là Jonathan Goforth, nhưng về mặt sai phạm của ông thì không đáng kể.

Jonathan Goforth chào đời ở nông trang của song thân mình, gần Thordale, Ontario, Canada, ngày 10-2-1859. Gia đình này 10 anh em trai và một chị gái. Tổ tiên họ từ miền Yorkshire, Anh quốc di cư sang Canada, mẹ ông thì di tản từ North Ireland. Các con cái trong nhà sớm đi vào nề nếp trong những ngày đầu đời. Các con trai thì phụ giúp cha ở ngoài đồng; hoặc làm những việc lặt vặt cho những nông gia láng giềng của họ Giữa thời gian phải gieo trồng và thu hoạch mùa màng thì họ đến trường. Từ lúc còn thơ ấu, Goforth đã mau chóng hấp thu một nền Cơ Đốc giáo dục vững chắc nơi người mẹ, bà thường cùng các con đọc Thánh Kinh, và cầu nguyện, và cậu cũng thường đọc Lời Chúa cho mẹ nghe. Khi cậu lên 10 tuổi, một buổi sáng Chúa nhật cậu đi Nhà thờ với mẹ ấy là tuần có Ban Tiệc Thánh. Thình lình có một sức tác động mãnh liệt cho biết rằng nếu Đức Chúa Trời cất linh hồn cậu đi lúc đó thì cậu không được lên Thiên đàng. Đến năm 18 tuổi, ông được coi là một thanh niên tốt, chăm chỉ, lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ người khác. Ông rất cố gắng học tập và được mọi người yêu mến. Cũng thời gian này, Goforth đã "tra tay cầm cày" của Đức Chúa Trời và chẳng bao giờ quay lại đằng sau. Theo lời ông: "Đời sống của tôi tùy thuộc vào Ngài, bởi Ngài đã phó dâng mạng báu Ngài vì tôi rồi!". "Những ký ức về Robert Murray McCheyne" quả thật đã đặt "những viên than hồng" vào cõi lòng ông, đây là một quyển sách do một cụ Thánh tông đồ người Scotland đem đến cho ông. Ông chẳng hề được an nghỉ cho tới khi quyển sách làm xong sứ mạng của nó. Đó là một bước ngoặc, vì tới giờ phút này, tiếng gọi mà ông nghe được đã xác định cho chức vụ mà ông nhận lãnh từ Thiên Chúa.

Trước khi bước chân vào trường Cao Đẳng Knox tại Toronto, ông đã tham dự một buổi thờ phượng, trong đó một giáo sĩ đã từ Formosa trở về làm chứng. Thật là một thách thức lớn lao đối với cá nhân thanh niên Goforth. Ông kể lại "Từ giờ phút đó mà đi, tôi đã trở thành một nhà truyền giáo hải ngoại rồi" Không hài lòng với việc chỉ chăm chú trong sự học hành trong thời gian ở trường Cao đẳng, ông đã tự tìm những phương cách cùng phương tiện riêng để làm chứng về Chúa cho mọi người.

Buổi sáng Chúa nhật đầu tiên của ông ở Toronro trôi qua bằng việc đi thăm một nhà tù, một việc làm mà ông đã làm trong suốt thời gian học tập của ông. Sau giờ giảng Tin lành, ông đi từ xà lim này đến nhà giam khác để kêu gọi từng tù phạm đến với Chúa. Việc làm có tính cách cá nhân này đã nói lên bản chất chức dịch của ông. Ông đã say sưa hằng giờ ở những nơi bần cùng và với những người đang bị xã hội dòm ngó, khinh khi. Sự việc này ông đã ghi lại trong một bài tường thuật, và coi mình như là "một nhà truyền giáo cho hạng người bị đời quên bỏ" của thành phố.

Giáo hội Trưởng lão tại Canada chưa hề có mặt tại Trung Hoa cho đến khi Goforth tốt nghiệp trường Cao đẳng Thần học Knox. Trái tim của ông đã dồn dập khi nghe nói đến xứ sở xa lạ ở Viễn đông đó, mà sau này Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung hoa đã thúc đẩy những thành viên của họ áp dụng phương sách của ông. Cùng kết hợp thành nhóm với nhau, họ đại diện cho hàng giáo phẩm và các Hội Thánh, họ đã thực thi vì cánh đồng lúa Trung hoa đang chín rộ. Chính ông Goforth đã làm việc quên mình, vừa công bố những lời kêu gọi vừa gởi những nhân sự cho nhu cầu thuộc linh, những người làm chứng, những sách nhỏ khác nói về Trung hoa của Hudson Taylor. Sự nhiệt cuồng năng động của họ chẳng phải là không đem lại kết quả đâu, vì trong kỳ đại hội truyền giáo vào tháng 6 năm 1887, Jonathan Goforth đã chính thức được chỉ định đến Hoa lục. Cùng năm đó ông được tấn phong thánh chức Mục sư và kết hôn với cô Rosalind.

Khi đến tại Trung hoa, ông thăm dò ý kiến những nhà Giáo sĩ đi trước, và tìm một địa điểm mới là lãnh thổ phía bắc tỉnh Hồ nam, vùng Tam giác miền đông bắc sông Hoàng hà. Tại Tri phủ họ dựng một nhà tạm dùng để học tiếng, và ở đó ông bà đã trải qua những sự thử thách đầu tiên khá nghiêm trọng. Trong một bữa cơm tối, bỗng nhiên có những tiếng kêu la gào thét cắt ngang bữa ăn của họ, họ chợt thấy phòng ngủ cuối nhà phát hỏa. Tất cả những gì quý giá của đôi vợ chồng mới cưới phút chốc đã làm mồi cho ngọn lửa. Mọi vật có giá trị đều đã biến thành tro. Khi chứng kiến những sự mất mát trước mặt, Goforth đã nói với vợ: "Đừng buồn phiền chi hết em ơi, anh tin tất cả điều gì xảy đến cho chúng ta đều có một bài học của Chúa cả!"

Suốt 9 tháng ở Tri phủ, và tiếp đó là một vòng khám phá những miền đất đầy thách thức sắp tới của họ. "Chúng tôi đã đi xuyên qua biên giới phía bắc để tiến vào tỉnh Hồ nam trên sông Hoàng Hà, xứ sở trước mắt chúng tôi nằm trong một vùng khá phì nhiêu, với những làng mạc có nhiều nông trại dày đặc". Họ viết trong nhật ký như thế.

Chừng 2 năm với Ban lãnh đạo truyền giáo của ông tại Liêu đông, ông đã thực hiện những chuyến đi truyền giảng, sử dụng tất cả mọi phương tiện có được lúc ấy để đến Hoa nam. Nhiều lần ông bà đã thoát khỏi tay những bọn trộm cướp, ghen ghét những ngoại quốc muốn ám hại. Nhưng rồi những ngày khó khăn ban đầu đã qua, và từ làng này đến làng khác, ông vừa đi thăm vừa rao truyền Tin lành. Nhưng quan trọng và đáng nhớ hơn hết là thời gian giáo sĩ Goforth đi thăm giảng ở tỉnh Giang Tây, và tên tuổi ông đã gắn liền với tỉnh lỵ rộng lớn này.

Mùa hè sau khi ông tới Giang Tây thì, toàn vùng đã hứng chịu một trận lụt lớn chưa từng có. Đây là lần thứ hai mà ông đối mặt với tai họa. Nhưng lửa trước nước sau cũng chẳng làm chi được ông. Sau kỳ nghỉ hạn ở Canada, ông lại sang Hoa Nam. Tại đây việc truyền giáo kết liền với đường phố đang được mở mang xây dựng. Nơi mà từ sáng tinh mơ đến tối, ông luôn bận rộn nóng lòng đem Phúc Âm đến cho đám quần chúng đông đảo muốn nghe. Chúa ban cho ông một đồ đệ á phiện đã được phóng thích đã nhiệt thành cộng tác với ông trong công tác nặng nhọc này. Có chừng 25000 người cả nam lẫn nữ đã được nghe Tin lành trong vòng 5 tháng. Đoàn ông phải giảng 8 giờ mỗi ngày. Mặc dầu rất thành công qua việc đồn rao Danh Chúa, song không phải là được miễn trừ những thử nghiệm nghiêm trọng đâu. Có vô số những nổi đau, thiếu thốn, bất ngờ bệnh tật ập đến bởi công việc quá sức: sự đau ốm trong gia đình, hai đứa con chết từ ngày còn ấu thơ, một con khác chết ở Giang Tây, hàng loạt những tai ương và những tháng ngày đầy khủng hoảng làm cho tinh thần ông yếu đuối và mòn mỏi dần. Nhưng sau một kỳ nghỉ ngắn ngủi ở quê nhà, Đức Chúa Trời đã bồi dưỡng linh thể ông, nên ông được phấn chấn tinh thần trở lại. Ngài cũng đem ông trở lại với công trường của Vương quốc Đức Chúa Trời, và ông thấy Nước Chúa ngày càng mở rộng đến độ kinh ngạc bởi chức vụ ông. Có 50 Hội Thánh mới được thành lập, nhiều nhà thờ được xây cất.

Một trận hạn hán lại nổ ra, trải qua nhiều tháng không có nước trong vùng ông ở, cô con gái lớn nhất của ông lại về Nước Chúa trong tai nạn này. Năm 1900, đúng là vào mùa hè, Tây Thái hậu Trung Hoa đã ra sắc lệnh tàn sát tất cả những người ngoại quốc (da trắng) trên đất Trung Hoa. Giặc này thường gọi là Rợ Quyền phỉ (Boxers). Kết quả là có hàng trăm giáo sĩ và tín đồ bản xứ đã chịu tuận Đạo. Ngày 27-6-1900 Goforth buộc phải rời khỏi trụ sở chính của mình, với 10 rương hành lý, 4 đứa con, một đứa còn bé bỏng, 3 người đàn ông, 5 người đàn bà, 3 kẻ giúp việc. Họ phải ra đi giữa những trận "mưa đá" của những kẻ quá khích thù ghét dân da trắng. Nhưng Đức Chúa Trời đã giải thoát đầy tớ Ngài và 15 người trong đoàn tùy tùng một cách lạ lùng, họ cảm thấy phải trở về Canada một thời gian.

Khi trở lại Giang Tây, tình hình đã được cải thiện, và lúc này các nhà truyền giáo đã có rất nhiều công việc để làm. Tâm hồn Goforth bấy giờ rất sảng khoái. Ông cũng là người đi tiên phong, đem cả gia đình đi giảng lưu động, hết thị trấn này rồi từng làng mạc, thành phố, có nhiều người tình nguyện đi theo để yểm trợ chức vụ ông.

Thời kỳ này có một người bạn gởi cho ông quyển "Tuyển tập những bài giảng phục hưng của Sứ giả Charles Finney". Nó là cột mốc tạo chú ý cho chức vụ đặc biệt của ông sau này. Ông đọc rất kỹ những sứ điệp trong đó. Ông cũng soạn các bài học Thánh Kinh với đề tài "Phấn hưng" như là chủ đề riêng của ông. Rồi ông tới Mãn Châu là một vùng mà ông hoàn toàn là nhà truyền giáo vô danh tiểu tốt. Song khi ông rời khỏi nơi này thì nó trở thành một điểm sáng của thế giới Cơ Đốc giáo trong bản đồ sự nghiệp của ông.

Cuộc phấn hưng thật sự cũng đã bùng lên, bởi Đức Chúa Trời đã dùng chính nhà truyền giáo lão thành này đem đến. Mỗi ngày có từ 700-1000 người đến cầu nguyện ăn năn, khóc lóc, xưng tội. Ngày nào ông Goforth cũng phải giảng Lời Chúa chừng 3 giờ đồng hồ. Có năm ông đã làm Báp-têm cho hơn 4000 tín hữu tân tòng.

Thời gian vụt qua mau chóng. Thấm thoát mà Mục sư Tiến sĩ Jonathan Goforth đã 65 tuổi. Khi về nước nghỉ hạn năm 1925, ông được ủy thác cho trách nhiệm cầm đầu Ban Truyền giáo Hải ngoại để tái hồi Trung Hoa và họ đã tìm ra cánh đồng mới mà Tin lành còn khá xa lạ, đó là vùng Hoa Bắc. Năm 68 tuổi ông cũng lại đi đầu. Khi tới Trung hoa lần này, một lá thư cho biết cửa rao giảng ở Mãn Châu đang mở rộng trước mắt ông, và xứ sở này đã là địa hạt truyền giáo trải qua những năm tháng cuối cùng của đời ông. Đây là một xứ lạnh, tuyết và nước đá phủ quanh năm. Mãn Châu nằm giáp giới với Mongolia và Nga. Mỗi ngày, mặc dầu tuổi già sức kém, nhưng ông phải giảng 7 tiếng đồng hồ. Kết quả một năm có 200 người tin nhận Chúa. Mùa gặt bội thu, công việc tiến triển mau chóng với 2 trung tâm chính và một điểm truyền giảng phụ. Ông có rất ít thời giờ nghỉ ngơi. Không đủ tài chánh để cho các nhân sự phụ giúp, nhưng ông đã cầu nguyện và họ đã nhận được từ những "món quà riêng". Thật là lạ lùng, Đức Chúa Trời đã cung cấp cho đoàn ông đủ tiền bạc để làm việc trong 3 tháng. Chỉ bởi đức tin nơi cầu nguyện. Nhiều hôm thời tiết lạnh dưới không độ, nhưng số người nghe Phúc Âm cứ gia tăng. Rồi công tác cứ đẩy ông đi từ trại này đến trại khác với một người hướng dẫn. Ông cũng bị chứng ho rát cổ và đau lưng hành hạ. Song ông đã nhờ Chúa chiến thắng tất cả, ông nói rằng: "Ma quỉ đã cố gắng làm tốt công việc của nó để phá hoại việc truyền giáo của chúng tôi, nhưng Đức Chúa Trời lúc nào cũng ở cùng chúng tôi!"

Đến thời kỳ tuổi tác đã lên tiếng báo động, ông buộc phải trở về quê hương, và đôi mắt rất cần thiết để ông làm việc tại quê nhà thì nó đã không còn dùng được nữa. Ông Goforth đã bị mù hẳn. Mỗi ngày ông phải đọc thuộc lòng cho vợ ông và người thư ký viết, tường thuật lại những công việc kỳ diệu mà Đức Chúa Trời đã thực thi tại Trung hoa qua chức vụ của ông bà, đó là những quyển "Thánh Linh tại Trung Hoa", "Những đời sống lạ lùng ở Trung Hoa". "Bởi Thần Ta"...

Vào năm 74 tuổi, người ta được biết ông đã dành 6 tháng trong một năm để tiếp tục công tác truyền giảng phục hưng. Kết quả thật phi thường tại các Trung tâm của cánh đồng truyền giáo Hoa lục rộng lớn. Khi ông trở lại Giang Tây, có rất nhiều người cao tuổi còn nhớ đến ông đã vây quanh ông để nghe Lời làm chứng và sứ điệp Tin lành do sứ giả lão thành này, ông không thể nghỉ ngơi được. Nhiều lần mỗi ngày trong những láng lều rộng lớn có cả 1000 người tụ tập để nghe "Những truyện tích cũ do người bạn già" của họ rao giảng, kể lại.

Một ngày trong tháng 10 năm 1936, ông Goforth đang ở quê nhà tại Canada, ông đã phải tiếp khách và làm việc không ngừng nghỉ. Buổi chiều hôm đó ông trở về nhà con trai ông. Ông đi vào phòng riêng nằm nghỉ... Sáng hôm sau ông đã thực sự cập bến bờ vàng mà ông hằng tháng năm chờ đợi, và được diện kiến Vị Hoa Tiêu vĩ đại Vĩnh cửu của mình mặt đối mặt. Giáo hội Trưởng lão và Hội Thánh Knox ở Toronto đã sắp đặt và cử hành lễ tang cho ông rất trang nghiêm, đông đúc và cảm động.

Thế là một Chiến binh Thập tự anh dũng đã đắc thắng bước vào khải hoàn môn. Người ta có thể nói gì hơn nữa. Jonathan Goforth thật là một Cơ Đốc nhân lớn, một nhà truyền giáo có bề dày thời gian công tác đáng kể, một tín hữu sùng kính Đức Chúa Trời rất mực, và một độc giả ngoại hạng của Thánh Kinh. Ông đã đọc suốt qua Thánh Kinh 77 lần từ đầu đến cuối kỹ lưỡng.

Nhưng trên hết, Jonathan Goforth của Trung Hoa là một người có mục tiêu từ buổi đầu ông nhắm đến, và suốt đời ông thẳng tiến không khi nào để mất mục tiêu của mình.