PHẬT GIÁO

(Buddhism)

Trong các tôn giáo trước mà chúng ta đã nghiên cứu, có sự hiểu biết hoặc hết lòng, hoặc một vị thần hay nhiều vị thần. Giờ đây, chúng ta đến với một tôn giáo không nhìn nhận sự tồn tại của một vị thần nào cả. Trong thực tế, Đức Phật đã cảm thấy rằng sẽ tự là tự phụ nếu cho rằng có một vị thần linh hiện hữu. Có điều nầy là một vị thần phải ở ngoài giới hạn sự hiểu biết của con người. Chúng ta có thể hỏi một cách hoàn toàn đúng rằng “Có thể nào một niềm tin không nhìn nhận sự hiện hữu của bất cứ vị thần nào lại được xem là một tôn giáo không? Há đó không phải chỉ là một hệ thống luân lý hay một triết lý của Đông Phương hay sao?

Tuy nhiên, Phật giáo vẫn là một tôn giáo. Trong thực tế, có hơn hai trăm năm mươi triệu người đi theo nó và là một trong những tôn giáo lớn của thế giới.

Trong khu vườn tôn giáo của thế giới, có một khu vực thuộc về Phật giáo. Nó là một trong những khu vực lớn và nó tự kiêu hãnh về sự kiện có trong nó , tất cả đều tốt đẹp. Không có cuộc sống nào là để đau khổ. Mọi người đều tử tế với nhau. Loại hoa được Phật giáo ưa chuộng là hoa sen, vì nó miêu tả cái địa vị mà con người phải nhận để bước vào trong sự trầm tư. Nhờ đó, họ có thể thành một bậc thánh, một người giúp đỡ hay là một cứu tinh của nhân loại.

Dàn Bài

Làm quen với Phật giáo.

Những niềm tin của Phật giáo.

Những sự truyền thông của Phật giáo.

Sự phát triển của Phật giáo.

Đánh giá về Phật giáo.

LÀM QUEN VỚI PHẬT GIÁO

Trong lịch sử của nó trải qua mười lăm thế kỷ qua, Phật giáo đã là một trong những sức mạnh giáo hóa ở vùng Viễn Đông mà người ta từng biết. Nó mang lại những tư tưởng sâu đậm cho nền văn hóa của Trung Hoa vào đời nhà Đường ở thế kỷ thứ bảy đến thế kỷ thứ mười sau công nguyên. Nó đã tạo ra những thay đổi và những ảnh hưởng thuộc linh lớn nhất so với bất kỳ tôn giáo nào tại Nhật Bản, Thái Lan, Tây Tạng, Lào, Cam Bốt và Tích Lan. Tôn giáo nầy là gì? Tại sao nó có một ảnh hưởng rộng lớn ở vùng Viễn Đông và một sự cầm giữ vững chắc trên tín đồ của nó như vậy?

Định Nghĩa Phật Giáo

Từ ngữ Buddha (Phật đà hay gọi tắt là Phật) là một danh từ phạn ngữ có nghĩa là “Quang Minh” (được soi sáng) hay “giác ngộ”. Nó đến từ chữ Bodhati nghĩa là “Bậc được giác ngộ hay Đại giác”. Phật giáo là sự dạy dỗ phát sinh do Phật Thích Ca. Nó chủ trương rằng sự đau khổ là thông thường cho nhân loại và rằng một người có thể tránh khỏi sự đau khổ bằng sự thanh tẩy để vào tình trạng nirvana (niết bàn ). Phật giáo vừa là một tôn giáo, vừa là một triết lý và nó có một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, văn hóa và thuộc linh của thế giới Đông Phương. Giống như những tôn giáo Đông Phương khác, Phật giáo có căn rễ trong Ấn độ giáo, nhưng nó đã phát vượng tại các nước không theo Ấn độ giáo hơn là tại chính nguyên quán của nó.

Những Người Sáng Lập Phật Giáo

Siddharta Gautama (Tất Đạt Đa Thích Ca), người sáng lập ra Phật giáo, ra đời tại thành Kapilavastu (Ca-tì-la-vệ) thuộc thung lũng sông Hằng, ở vùng Nepal, Ấn độ, vào khoảng năm 563 T.C, cách đỉnh phía bắc của dãy núi Hi-mã-lạp sơn bốn mươi dặm (khoảng 65 km). Được sinh ra trong bộ lạc Aryan, con trai của vị raiah (tiểu vương) thuộc giai cấp Kshatriya, tức giai cấp chiến sĩ, ông thuộc về hoàng tộc. Một tuần lễ sau khi ông ra đời, mẹ của cấp chiến sĩ, ông thuộc về hoàng tộc. Một tuần lễ sau khi ông ra đời, mẹ của ông qua đời và ông được dì của mình nuôi dưỡng, bà cũng là kế mẫu của ông.

Người thanh niên họ Thích nầy được trưởng dưỡng trong sự xa hoa, sự hào nhoáng của một vị hoàng tử và hưởng thụ mọi thú vui thuộc thể. Ông có ba cung điện: một cái dùng để nghỉ trong mùa lạnh, một cái dùng để nghỉ trong mùa nóng và một cái dùng để nghỉ trong mùa mưa. Cũng như những cậu con trai nhà giàu khác đương thời, ông rất giỏi về các môn thể thao. Một lần nọ, trong một cuộc so tài bắn cung, ông đã chinh phục được lòng ái mộ của một thiếu nữ đẹp, con gái của một vị raiah. Họ kết hôn và sinh hạ được một con trai. Cha ông không muốn trở thành một người lãnh đạo tôn giáo nên người đã cách ly ông hoàn toàn với phương diện đen tối của đời sống. Người cố bản ngăn ông khỏi nhìn thấy bối cảnh: tử (chết), lão (già), bệnh và tu hành. Tuy nhiên, dần dần con trai của người đã khám phá ra bốn điều cấm đoán đó. Ông đã thấy một thi hài bị thối rữa, một bà già lưng còng, một người mắc bệnh ghê tởm và một nhà sư bình lặng đã từ bỏ thế giới để tu hành. Khi đó, chàng thanh niên họ Thích nhìn nhận rằng đời sống của hầu hết mọi người đều đưa đến một cuộc đời đầy khổ đau, và ông đã rất băn khoăn lo lắng.

Nan đề khổ đau đã khuấy rối vị hoàng tử trẻ tuổi nầy đến nỗi ông không thể nào tiếp tục sống trong cung điện với sự dễ chịu và dư dật. Một đêm kia, vào lúc hai mươi chín tuổi, ông đã quyết định bỏ gia đình để ra đi tìm câu giải đáp. Ông đã lên đường trong một chiếc xe ngựa của mình, băng mình vào đêm tối. Đi được một quãng đường, ông đã xuống tóc, cạo râu và gởi trả về chiếc xe ngựa cùng với người kỵ phu. Ông thay đổi y phục của một người ăn mày và tiếp tục lên đường bằng đôi chân.

Trước hết, Ngài Thích Ca tìm câu giải đáp cho mình nơi triết lý và ông theo học đạo để trở thành một vị guru (đạo sư). Nhưng không tìm được sự thỏa lòng, ông đã thử sống cuộc đời tu hành cùng với năm nhà sư khác, cuộc đời đó kéo dài trong sáu năm. Ông đã tìm kiếm mọi thứ khổ đau với hy vọng tìm được sự giải thoát. Có những lúc ông nằm ngủ trên giường gai, không tắm rửa và chỉ ăn một hạt gạo mỗi ngày. Ông ăn mặc quần áo rách rưới, xấu xí, ngồi trong chỗ đau đớn hằng giờ. Ông để cho các loài chấy rận sống trên cơ thể mình và đã trở thành rất gầy yếu. Ông nói rằng đã có một giai đoạn ông rờ vào bụng mình và cảm thấy như sờ được cái xương sống của mình. Nhưng mặc cho mọi nổ lực tu hành của mình, ông đã thất bại trong việc tìm ra lời giải đáp cho mình.

Một ngày kia. Ông bị ngất xỉu và rơi vào một dòng suối, nhưng nhờ nước lạnh của nó mà ông được hồi tỉnh. Ông nghĩ đến tình trạng của mình và nhìn nhận rằng con đường tu hành không làm cho thỏa mãn. Ông chổi dậy, tắm rửa và đi đến một quán ăn để ăn một bữa ăn thật ngon. Khi các bạn hữu ông thấy ông ăn uống, họ gọi ông là kẻ phản bội và lìa bỏ ông. Sau bữa ăn đó, ông đã lang thang đến bờ sông Nairanjara và ngồi dưới bóng cây bồ đề (bohhi - có nghĩa là “tri thức”) để nghiền ngẫm. Người ta nói rằng ông ngồi ở đó 49 ngày, suy gẫm về những kinh nghiệm của mình. Sau cùng, một chân lý lóe sáng trong đầu ông và nó làm cho ông được thỏa mãn. Ông gọi đó là sự quang minh (đắc đạo) của mình. Từ đó trở đi, người ta gọi ông là Phật , tức là một “người đắc đạo” (hay là người đã thông hiểu). Cây bồ đề đã trở thành thiêng liêng đối với người Phật tử, hầu như nó đầy ý nghĩa cũng như cây thập tự đối với người Cơ Đốc vậy.

Phật Thích Ca đã đi đến một kết luận căn bản. Sự khổ đau là nan đề cơ bản của con người và nguyên nhân cơ bản của khổ đau là dục vọng. Con người bị trói buộc vào vòng luân hồi vì cớ tanha tức là “hành động tham muốn” hưởng thú vui nhục dục. Khi một người chấm dứt lòng tham muốn (diệt dục) thì người đó được giác ngộ (hay đắc đạo) và sẵn sàng để nhập nirvana (niết bàn ), nghĩa là “tịch diệt”. Bước đầu tiên sau khi ông thành đạo là ông tìm đến với năm người bạn tu hành cũ của mình, là những người đã từ ông một cách khinh bỉ. Ông thuyết pháp cho họ trong một khu nuôi nai ở Benare (vườn Lộc giả) về Tứ Điệu đế (hay còn gọi là Tứ Thánh đế hoặc Tứ Chân đế). Các bạn của ông, thấy sự thay đổi nơi Phật Thích Ca, đã chấp nhận sự dạy dỗ của ông và thành lập ra Sangha (Tăng già ), hàng ngũ tu hành của đạo Phật.

Trong bốn mươi lăm năm tiếp theo, ông đã rày đây mai đó để thuyết pháp sứ điệp của mình và thâu góp môn đồ. Khi ông dạy rằng, con người ở bất cứ giai cấp nào, tính phái nào cũng đều có thể tìm thấy sự cứu rỗi, thì các phụ nữ cũng xin gia nhập. Vợ ông thuộc trong số những người đầu tiên xin gia nhập. Sau một thời gian chờ đợi, ông cho phép phụ nữ lập ra hàng ngũ ni-cô (hay sải). Các nhà sư cạo đầu, mặc áo cà sa vàng và mang bình bát để xin thức ăn (khuất thực).

Đức Phật qua đời năm tám mươi tuổi do ăn phải nấm độc. Những lời nói cuối cùng của ông là: “Hãy hết sức phấn đấu để tạo ra sự cứu rỗi cho mình”. Các người theo ông tin rằng với sự chết, ông đã được nhập niết bàn, tức là sự chấm dứt cuối cùng mọi dục vọng.

Vị Trí Địa Dư

Phật giáo lan rộng nhanh chóng khắp Ấn độ sau khi Đức Phật qua đời, nhưng nó được hấp thụ vào Ấn độ giáo trong những thế kỷ sau đó. Nó đã trở thành mạnh nhất ở Sri Lanka (Tích Lan) và đã dựng được bàn đạp ở Miến Điện, Thái Lan, và Cam Bốt. Nó được mang vào Trung Hoa và đã trở thành một trong ba tôn giáo chính. Ngày nay, nó tồn tại ở Mông Cổ, Tây Tạng, Trung Hoa, Đại Hàn và Nhật Bản.

Những Sự Phân Nhánh Theo Lịch Sử

Sau khi Ngài Thích Ca qua đời, Phật giáo bị phân thành hai trường phái tư tưởng lớn. Mỗi trường phái tự gọi mình là một yana (Thừa ), tức là “chiếc bè” mang con người băng qua biển đời để cập bến quang minh. Phái phía bắc được biết đến là Mahayana (Đại thừa ) hay “Chiếc Bè Lớn” mà người ta gọi là chiếc xe lớn (hay là một phương tiện lớn). Chữ Maha có nghĩa là “cao thượng” như trong tên Mahatma Gandi, có nghĩa là một con người có tâm hồn cao thượng.

Trường phái ở phía nam được biết đến là Hinayana (Tiểu Thừa), nghĩa là “chiếc xe nhỏ”. Tuy nhiên, các tín đồ của nó thích tự gọi mình là Phật Tử Theravada hơn, tức là “con đường của bậc trưởng thượng”. Họ là tôn phái bảo thủ hơn, và tuyên bố rằng mình đi theo sự dạy dỗ nguyên thủy của chính Đức Phật. Phái Đại Thừa chống đối lời tuyên bố nầy bằng sự nhấn mạnh của họ về đời sống của Đức Phật hơn là về sự dạy dỗ của Ngài. Những địa điểm chính của Phật giáo Theravada là Sri Lanka, Miến Điện và vùng Đông Nam Á.

NHỮNG NIỀM TIN CỦA PHẬT GIÁO

Trước tiên, giáo thuyết của Đức Thích Ca là một hệ thống luân lý hơn là một tôn giáo. Nhưng, trong khi nó lan rộng vào các quốc gia khác, giáo thuyết đó đã trở thành có định nghĩa và được phát triển thành một hệ thống các niềm tin.

Những Niềm Tin Được Thừa Hưởng

Điều mà Phật Thích Ca đã học biết được qua sự trầm tư của ông dưới cây bồ đề phải được nghiên cứu trong cái bối cảnh của ông. Sự dạy dỗ của ông là một sự phản kháng chống lại Ấn độ giáo chính thống, nhưng ông đã giữ lại một số niềm tin của đạo ấy. Một là thuyết luân hồi, tức niềm tin cho rằng mọi đời sống đều trải qua vô số chu kỳ sinh, tử và đầu thai. Ông cũng duy trì giáo thuyết Karma (nghiệp quả), theo đó hành vi tốt được thưởng, hành vi xấu bị phạt trong cuộc đời tương lai. Tuy nhiên, ông chống đối hệ thống giai cấp, tin rằng mọi người đều bình đẳng.

Hữu Thể Tối Cao

Theo người Phật giáo thì chẳng có Thượng Đế nào cả, vì một hữu thể như vậy vượt ngoài tầm hiểu biết của con người. Họ nói rằng, một người tự quản trị lấy số phận của mình. Một trong những đều trớ trêu của lịch sử là Đức Phật, người đã phủ nhận một hữu thể tối cao, lại được tôn thờ với nhiều tượng ảnh hơn bất cứ người nào khác trong lịch sử thế giới ! Nhiều tước hiệu thần thánh đã được gán cho ông. Kinh sách của Phật giáo gọi ông là “Vua của các vua trong vũ trụ, là một người chiến thắng. Các vị thần và con người phải thờ phượng Ngài như là Đấng Chí Tôn, Đấng vượt cõi thời gian. Trong thế giới thần linh, không có ai bằng Ngài. Khi Ngài ra đời, kẻ mù được khôi phục thị giác, như thể vì muốn thấy vinh quang của Ngài. Kẻ điếc đã nhận lại khả năng nghe. Người câm đã nói được. Kẻ bị xiềng xích được giải thoát khỏi xiềng xích” Tuy nhiên, các Phật Tử nói rằng họ không có cầu nguyện cùng Đức Phật. Hằng triệu pho tượng dành cho ông để phô diễn sự thanh thản, sự khôn sáng và sự quang minh.

Những Tổ Chứa Thiêng Liêng

Phật giáo không có thẩm quyền chung, không có giáo hoàng, không có nghi lễ nhập đạo. Nó không đòi hỏi phải tuân theo một chuỗi qui luật hợp pháp nào như Do Thái Giáo đòi hỏi, cũng không cần có một hành động phục tùng nào như đã có trong Hồi giáo. Một người có thể trở thành một Phật Tử chỉ bằng việc thực hành các nguyên tắc của Bát Chánh Đạo. Nhờ đó, một người hy vọng nhận được một tình trạng vô ngã (không còn nghĩ đến mình nữa).

Nhà Sư (còn gọi là các vị Tỳ Kheo hay Tỉ Khưu). Vì Phật giáo đòi hỏi phân rẽ ra khỏi sự ồn ào của cuộc sống thường nhật, nên nó đã được gọi là một tôn giáo của các nhà sự. Người Phật Tử chân chính phải sống thanh tịnh, tức là trong các tịnh xá có rải rác ở khắp nơi. Trong các nước như Thái Lan và Miến Điện, mọi người đàn ông phải sống vài tuần như là nhà sư, và nó là một phần trong sự giáo dục của họ. Tại Tây Tạng, nó được gọi là Lamaism (Lạt ma giáo), các nhà sư chiếm tới một phần ba dân số. Họ thành lập một đội ngũ tư tế mà đội ngũ đó cai trị đất nước cả về mặt chính trị.

Các nhà sư cử hành các tang lễ, các lễ lạc trong chùa và thực hành việc dạy đạo cho lớp người trẻ. Nhưng nhiệm vụ chính của nhà sư là vạch ra cách sống cho người đạo Phật để đi đến niết bàn. Ông nhận lương thực qua việc đi xin (khuất thực). Ông mặc áo cà sa màu vàng, có một bình bát, một cây kim và một xâu chuỗi gồm 108 hạt (để đếm ra những phẩm tính của Đức Phật). Ông có một lưỡi dao cạo để cạo đầu và một tấm lưới lọc để lọc các côn trùng ra khỏi nước uống e ông gây cho các vật sống chịu đau khổ. Khi nhà sư được dâng cho thức ăn, thì ông đã ban cho người dâng thức ăn đó một công đức và người dâng thức ăn đó phải nói “cảm ơn Ngài”. Nếu người dâng là một phụ nữ thì nhà sư không được đáp lời hay nhìn đến người đó.

Arahat (A la hán hay gọi tắt là La Hán). Vị Arahat là một người thánh, một thánh đồ của Phật Giáo, là người đã tự mình đạt đến sự giác ngộ (hay thành chánh quả). Bằng sự trầm tư, người đó đã đạt đến đích của sự thanh tịnh tinh tuyền, vượt khỏi các giác quan. Một vị La Hán không phải là một linh hồn được cứu, vì Phật Thích Ca phủ nhận sự hiện hữu của linh hồn. Người đó đã đạt đến sự khôn ngoan và sáu sự toàn vẹn (thắng được lục căn). Người đó đã chinh phục được ba thứ say mê và thèm khát được đến sự đầu thai. Người đó nói: “Ta không muốn chết, ta không muốn sống”. Trong tình trạng nầy, người đó chờ đợi “sự tắt đi ngọn đèn sự sống” tức là vào niết bàn.

Boddhisattva (Bồ Đề Tát Thùy hay gọi tắt là Bồ Tát). Người Phật Tử lý tưởng là vị Bồ Tát tức là “Phật đang hành động”. Đó là một bậc thánh mà trọn cuộc đời họ là một cuộc đời yêu thương, hy sinh. Người đó thề rằng chẳng nhập niết bàn cho đến khi toàn thể nhân loại đều được cứu rỗi với mình. Bất cứ ai cũng có thể trở thành một vị Phật bằng sự nhận lấy lời thề. Người ta tin rằng đã có sáu vị Phật trước Phật Thích Ca. Một vị Phật khác, gọi là Maitreya (Phật Di lạc), chờ đợi thời kỳ thuận tiện sẽ đến trái đất nầy, khi đó ông sẽ làm cho con người ở thời đại của mình cái điều mà Phật Thích Ca đã làm. Như vậy, vị Bồ Tát là mộ loại cứu tinh hay là một vị phổ độ cho người đi tìm sự cứu rỗi.

Sangha (Tăng già ) có nghĩa là “đại chúng ”. Đức Phật tổ chức các tín đồ của ông thành một tổ chức tu hành được gọi là Sangha. Một nghi lễ được tổ chức cho người bắt đầu nhập vào đội ngũ Tăng già (Thầy tu), trong thời gian đó, họ phải tụng niệm một câu tín điều: “Tôi nương náu nơi Đức Phật, tôi nương nơi dharma (Phật pháp) và tôi nương náu nơi Sangha (Tăng già)”. Tương tự như là một nhà thờ, họ nhóm họp để nghe thuyết pháp về lời của Đức Phật và để xưng tội. Có 227 qui điều cho hội đoàn nầy.

Luân Lý Của Phật Giáo

Cốt lõi của sự dạy dỗ của Đức Phật nằm trong hai sự tuyên bố. hai sự dạy dỗ nầy được biết đến với tên là Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo. Đối với ông, nan đề lớn trong luân lý và vấn đề khổ đau. Ông nói rằng khổ đau là điều chung cho nhân loại, nhưng ông đã tìm được lời giải đáp cho mình trong Tứ Diệu Đế (Bốn lẽ thật kỳ diệu).

Tứ Diệu Đế

Diệu đế thứ nhất (Khổ đế) là: Sự sống là dukka , “khổ đau hay thống khổ”. Đức Phật nói rằng: “Sanh, bệnh, tử là khổ. Sự hiện diện của đối tượng mà ta ghét là khổ. Sự phân ly với đối tượng mà ta yêu là khổ. Không đạt được điều ta muốn là khổ”. Bám vào sự hiện hữu bằng năm Skandas (ngũ khổ) là “Khổ”. Năm Skandas (ngũ khổ: sanh, lão, tử, bệnh, biệt ly - ND) được cho là “những trạng thái thay đổi tức là sự tổng cộng của một con người). Nói cách khác, đời là bể khổ, nó giống như một cái trục bị lệch tâm khỏi những bánh xe của nó hay là một cái xương bị trật ra khỏi khớp.

Diệu đế thứ hai (Tập đế) là tanha , là “dục vọng”, là nguyên nhân của khổ đau. Nó là sự thèm muốn những thú vui vị kỷ. Đức Phật nói rằng thay vì liên kết đức tin của mình với tình thương, chúng ta “cột chúng vào những con lừa của cái tôi riêng rẽ của mình. Để thưởng cho bản ngã (egos) của mình, chúng ta tự khóa chặt mình từ phía bên trong”. Con người có một bổn phận đối với đồng loại mình: xem người khác như là một phần hoặc là sự nới rộng của chính mình.

Diệu đế thứ ba (Diệu đế) liên hệ đến sự chấm dứt khổ đau. Đức Phật tin rằng nếu nguyên do của sự lệch vị trí của cuộc sống là dục vọng vị kỷ, thì phương thuốc chữa cho nó là vứt bỏ lòng tham muốn (diệt dục). Ông nói:

“Nầy Bhikkus, đây là chân lý cao siêu (diệt đế) của sự chấm dứt khổ đau. Nó chấm dứt cùng với sự phá hủy hoàn toàn dục vọng”. Sự giải thoát xảy ra khi một người được tự do khỏi vòng luân hồi (Samsara) và vào trạng thái phước hạnh của niết bàn.

Diệu đế thứ tư (Đạo đế) là phương cách trừ khử lòng tham muốn. Đó là đi theo con đường trung dung. Đức Phật gọi đó là “Bát Chánh Đạo”. Nếu một người thực hành những điều nầy, thì người đó có thể xem như sẽ thấy sự đau khổ chấm dứt. Chúng ta hãy xét tám điểm nầy một cách chi tiết. Bạn nên cố ghi nhớ.

Bát Chánh Đạo

1. Chánh Kiến (Tin đúng hay hiểu đúng). Điều nầy có nghĩa là một người phải có những sự tin tưởng chắc chắn, chẳng hạn như Tứ Diệu Đế. Người đó phải tin rằng sự khổ đau vây bọc chung quanh và nó do lòng dục gây ra để mong sinh tồn riêng rẽ và hưởng thụ đầy đủ. Người đó phải tin rằng sự đau khổ có thể chữa trị, và phương tiện để chữa trị nó là Bát Chánh Đạo.

2. Chánh Tư Duy (Có dự định hay xu hướng đúng). Điều nầy nhằm giải quyết cách thắng hơn những xúc cảm và ham muốn của xác thịt. Nó bao gồm thiện chí, sự hòa thuận và tình yêu thương đối với người khác và bỏ đi mọi xảo quyệt . Mục đích nầy bao hàm giáo thuyết ahimsa , là giáo thuyết “không tổn hại”, tức là tránh mọi sự tổn thương cho bất cứ hình thái sự sống nào.

3. Chánh Ngữ (Nói năng đúng). Lời nói biểu lộ tâm tánh và là một đòn bẫy để chuyển dịch tâm tánh. Một người phải không nói gì ngoài sự thật. Đức Phật nói rằng sự lừa dối làm giảm sút tâm tính. Động cơ phía sau sự binh vực mình là sợ tiết lộ ra con người thật của mình. Lời nói đúng là tránh đi những lời tán gẫu vô ích, sự nói hành và sự gièm chê.

4. Chánh Nghiệp (Cư xử hay hành vi đúng). Điều nầy được mô tả trong các giới răn của Phật giáo, chúng tương tự như Mười điều răn của Môise. Sát nhân, trộm cắp và tà dâm là hoàn toàn sai trái.

5. Chánh Mệnh (Nghề nghiệp đúng). Điều nầy liên quan đến phương tiện sinh sống hay công việc của một người, và đòi hỏi một người xử dụng thời giờ và năng lực một cách đúng đắn. Cách để một người kiếm sống phải không được gây tổn hại cho người khác.

6. Chánh Tinh Tấn (Cố gắng hay cần mẫn đúng). Đức Phật kêu gọi phải có lời nói, tư tưởng và hành động cao đẹp nhất. Ông nói:

“Hãy theo các thức một con bò đi qua vũng lầy, vừa kéo một vật nặng. Nó mệt mõi nhưng nó một mực chăm chú không bao giờ thư giãn cho đến khi nó ra khỏi vũng lầy. Ngươi có thể thoát khỏi nó chỉ bằng cách một mực suy nghĩ đến đường đi. Hãy hoàn thành sự cứu rỗi của chính ngươi bằng sự cần mẫn”.

7. Chánh Niệm (Lưu tâm đúng hay có kỷ luật bản thân đúng). Thói quen suy nghĩ phải được thực hiện bằng những giờ lưu tâm đến những đề tài có ích. Khúc Kinh được các Phật Tử ưa thích nhất, Kinh Dhammapada, mở đầu với câu “Tất cả những gì chúng ta trở thành, là kết quả của những gì chúng ta suy nghĩ”.

8. Chánh Định (Suy tư đúng hay tập trung đúng). Đây là chỗ cao điểm. Đức Phật nói rằng bằng sự suy tư, cuối cùng một người đạt đến quả A-la-hán (arahat ). Karma được hoàn tất và sự đầu thai chấm dứt mãi mãi. Sự trầm tư và thành chánh quả được cho là có thể được trợ giúp bằng cách ngồi theo “thế hoa sen”. Một người ngồi chéo chân với mỗi bàn cha6n đặt trên đùi đối diện.

Phật Giới (giới răn của Phật )

Có Mười giới răn (Thập giới) mà các Phật Tử phải tuân giữ. Năm giới răn đầu đòi hỏi đối với tất cả các Phật Tử.

  1. Không sát sinh (giết bất cứ vật sống nào).
  2. Không trộm cắp.
  3. Không phạm tà dâm.
  4. Không được nói dối.
  5. Không uống rượu hay hút sách.

Ngoài những điều nầy, có ngũ giới áp dụng cho các tăng ni.

  1. Ăn uống đều đặn và chỉ ăn đúng bữa.
  2. Tránh những kích thích cảm giác như múa hát hay là xem múa hát.
  3. Không đeo trang sức, kể cả dùng dầu thơm.
  4. Không cất giữ vàng bạc.

10. Không cất giữ vàng bạc.

Linh Hồn

Trong Phật giáo, chữ anatta mang ý nghĩa là “không linh hồn”. Đức Phật nói rằng có một bản ngã nhưng không có linh hồn. Đối với ông linh hồn chỉ là một ảo tưởng mà người ta đặt cho nó một tên gọi. Thay vào đó, ông nói về Karma (nghiệp quả). Sự hóa thân kế tiếp của một người được định dạng theo tâm tính của người đó. Ông ưa dùng chữ thức (ý thức ). Điều nầy diễn ra giống như một chuỗi các điểm hơn là một dòng liên tục. Đức Phật thường dùng ví dụ về một ngọn lửa: “Ngọn lửa trên cây đèn nến lúc cuối không phải là ngọn lửa nguyên thủy lúc đầu. Cũng vậy, sự liên kết đến kiếp khác của một người không phải là một cái thuộc thực thể mà là thuộc ảnh hưởng”. Sự vị kỷ đặt một đám mây trên mọi mục đích tốt. Nó giống như đạp trên tro che khuất lửa, tất nhiên chân phải bỏng.

Sự Cứu Rỗi

Đối với người Phật Tử, sự cứu rỗi nghĩa là một trạng thái hoàn toàn thanh thản vui tươi. Nó là một sự thoát ly tự hoàn thành khỏi mọi khổ đau. Để đạt đến trạng thái đó, Kinh Phật liệt kê ra nhiều điều cần phải tránh, những ham muốn phải từ bỏ và những xích xiềng phải bẻ ga4y. Ví dụ như có ba sự say đắm: tham lam (tham), oán thù (sân) và ngu dốt (si). Có năm chướng ngại: thú vui xác thịt, ác ý, sự lười biếng, sự nghi ngờ và sự bất an. Mười sự trói buộc, tức la những tánh xấu tiêu cực, cột trói một người vào bánh xe sinh tồn. Những người Phật giáo Theravada tin rằng khi một nhà sư thắng được năm sự trói buộc đầu thì người đó sẽ không bị trói buộc ấy thì người đó sẽ đạt được niết bàn và trở thành một arahat (a-la-hán).

Niết Bàn

Niềm tin nơi niết bàn là một phần quan trọng của Phật giáo. Nó là một danh từ tiêu cực, nguyên nghĩa là “một sự thổi tắt” ngọn lửa dục vọng và khổ đau. Các Phật Tử không nói rằng đó là một nơi chốn mà là một trạng thái đạt thành mà nó được nhận biết bằng sự tiêu diệt mọi sự trói buộc. Niết bàn cũng còn được gọi là sự giải thoát, sự đầu hàng, sự từ bỏ, và sự an tịnh của sự vô kỷ (vô ngã ). Người ta nói rằng nó (niềm tin nơi niết bàn) được kế thừa từ giáo thuyết của người Aryan thời xưa mà người Ấn độ giáo đã công nhận.

NHỮNG SỰ TRUYỀN THÔNG CỦA PHẬT GIÁO

Lúc đầu, những sự dạy dỗ của Phật giáo ở dạng thức nói (bất thành văn). Mãi cho đến thế kỷ thứ nhất trước công nguyên, trên đảo Sri Lanka mới có những Kinh sách đầu tiên của Phật giáo được ghi chép. Kinh sách chính là Kinh điển Pali, sách giáo lý chính của phái Phật giáo Theravada. Kinh điển Pali được gọi là Tripitaka (Tam Tạng Kinh ), tức là “Ba Giỏ” vì nó gồm ba phần. Những Kinh nầy nguyên thủy được viết trên lá kè (bối diệp) và được bảo tồn trong ba giở.

Phần thứ nhất được gọi là Vinaya Pitaka (Luật Tạng ), tức “giỏ về luật lệ”. Nó mô tả một ít về cuộc đời của Đức Phật và một số qui tắc kỷ luật dành cho các nhà sư. Phần thứ hai được gọi là Sutta Pitaka (Luận Tạng). Nó là “giỏ dạy dỗ” tức là sách giáo huấn, chứa các bài giảng thuyết của Đức Phật, cũng như 547 huyền thoại về các sự hiện hữu trước (tiền kiếp) của Đức Phật. Phần thứ ba là Abhidhamma Pitaka (Kinh Tạng hay Thế Kinh ). Nó là giỏ siêu hình học cho các học viên, chứa đựng thần học của Phật giáo, nó không dành cho người thường dân.

Độ lớn của toàn bộ ba Kinh sách nầy khoảng mười một lần độ lớn của cuốn Kinh Thánh, Khi được dịch và ấn hành ra Anh ngữ thì nó dài khoảng bốn lần so với cuốn Kinh Thánh. Kinh Sutta Pitaka là phần quan trọng nhất vì nó chứa các lời nói của chính Đức Phật. Nó được chia ra làm bốn nikayas , tức lời dạy dỗ. Phần cuối cùng là Kinh Khuddaka Nikaya là một nhóm gồm 15 tác phẩm, được hợp thành sau khi Đức Phật qua đời. Nó bao gồm khái luận về đạo đức quan trọng, Kinh Dhammapada (Kinh Pháp Hoa ), nghĩa là “Các câu thơ về Phật pháp”.

Nhiều tiêu chuẩn luân lý trong Kinh Phật có phẩm chất cao và nhắc nhở chúng ta đến phẩm chất của Thánh Kinh Cơ Đốc.

Lấy oán báo oán, oán ấy còn hoài, lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan. Nếu ngươi bị rủa, ngươi phải nén giận. Hãy khẳng khái quyết định “Tâm trí ta sẽ không bị xao động, chẳng có lời dữ nào ra khỏi miệng ta, ta vẫn giữ lòng nhân từ và thân thiện, với tư tưởng thương yêu và không có chút oán hận thầm kín nào”. Nếu người bị tấn công trước bằng đấm tay, bằng đá, gậy gộc hay gươm kiếm, ngươi vẫn phải nén mọi tức giận và giữ một tâm ý thương yêu.

Nếu một người muốn qui y để không còn bị đầu thai vào tình trạng khổ đau, và được đãm bảo về sự giải thoát cuối cùng, thì người đó hãy làm trọn mọi công đức; người đó hãy tận tụy đẻ sự an ổn của tâm hồn tràn dâng; chớ lui khỏi những phút xuất thần của sự trầm tự mặc tưởng; hãy thấu suốt mọi sự; hãy dành nhiều thì giờ ở riêng . . . Hãy lang thang độc hành như một con tê giác.

Nếu có ai làm gì sai trái đối với ta, ta phải lấy sự bảo vệ của lòng yêu thương không phản hậu của mình mà báo trả lại. Người đó càng làm ác tệ bao nhiêu thì ta càng báo trả thiện lành bấy nhiêu.

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO

Phật giáo đã và đang là một tôn giáo truyền giáo. Nó đã truyền bá khắp vùng Đông Á. Truyền thuyết của Phật giáo kể rằng vào năm 60 S.C , một Hoàng Đế Trung Hoa nằm mơ thấy một tượng Phật bằng vàng hiện ra ở phía tây. Ông sai sứ vượt dãy Hi mã lạp sơn để tìm nguồn gốc của giấc mơ ấy. Chính đó là sự phát khởi của Phật giáo tại Trung Hoa. Thái Lan cũng tiến bước theo sau đó vào thế kỷ thứ hai sau công nguyên.

Các Bước Tiến Của Sự Bành Trường.

Phật giáo đại thừa đã tiến triển nhiều do sự qui đạo của vua Asoka của Ấn độ (270 - 232 T.C) Việc vua Asoka quay về với Phật giáo cũng tương đương như Hoàng Đế Constantin quay về với Cơ đốc giáo. Ông đã làm cho Phật giáo thành một tôn giáo lớn trên thế giới, vá bánh xe luật pháp của ông vẫn phấp phới trên lá quốc kỳ của nước Ấn độ ngày nay. Ông đã viết những lẽ đạo của Phật giáo trên các vách đá ở nhiều nơi trong nước và gởi giáo sĩ đặc trách tôn giáo và thành lập các bệnh viện. Qua những cố gắng của ông, Phật giáo đã trở thành tôn giáo mạnh nhất ở Sri Lanka, và một số học giả Phật giáo danh tiếng đa phát xuất từ quốc gia nầy.

Hai nhân vật khác cũng nổi danh như Marco Polo trong các truyện du ký. Một vị là Pháp Thiền, ông đã rời Trung Hoa vào năm 399 S.C và đã sống tại Ấn độ mười lăn năm, tìm đến các chỗ thờ phượng nơi mà các Đức Phật Thích Ca đã từng sống, và ông đã biên soạn một bản tượng thuật tận mắt chứng kiến những gì ông đã tìm thấy. Vị kia là thầy Huyền Trang, ông đã đên Ấn độ vào năm 629 và đã và đã ở đó mười sáu năm (Xem truyện Tây Du Ký ND). Ông đã quay về với các Kinh sách mà ông đã dịch ra tiếng Trung Hoa. Có hơn một ngàn cuốn sách được gán cho ông và các đệ tử của ông. Trong thời gian ông sống, triều đình nhà Đường đã đầy những người tin theo Phật giáo. Nghệ thuật cũng phát triển nhiều trong thời kỳ nầy, có một số nghệ sĩ (họa sĩ) được nổi tiếng vì tác phẩm của họ. Trong các đường phố của kinh đô nhà Đường, người ta có thể thấy các học giả Phật giáo đang bàn luận về giáo thuyết với các người Khổng giáo và Lão giáo, thậm chí với các ngừi Cơ Đốc giáo nữa.

Vào thế kỷ thứ sáu sau công nguyên, các giáo sĩ từ Trung Hoa đến Nhật Bản, ở đó Phật giáo đã cùng với Thần giáo, nhanh chóng trở thành tôn giáo chính. Trong khi ở thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, Phật giáo đang lan rộng tại các nước Viễn Đông, thì ngay tại Ấn độ nó lại đang chết dần. Các vị hoàng đế lên ngôi phần lớn là người Ấn độ giáo hơn là Phật giáo và đức tin Ấn độ giáo dần dần đã chinh phục lại nhân dân của nước mình.

Các Tồng Phái Trực Giác - Phật Giáo Thiền Tông

Một nhóm người được biết đến như là nhóm Phật giáo Trực quan được thành lập bởi một vị Thiền sư tên là Bodhidharma vào thế kỷ thứ sáu sau công nguyên. Tông phái nầy tin rằng sự phấn khởi chỉ đến bởi một tia lóe nhìn thấy sau một thời gian nghiền ngẫm như Đức Phật đã có. Tông phái Phật giáo trực quan từ Ấn độ vào Trung Hoa, rồi từ Trung Hoa lan đến Đại Hàn và Nhật Bản. Tại Nhật Bản, nó đạt đến cực đỉnh và được gọi là Phật giáo Thiền (Zen). Bodhidharma đã dạy cho hoàng đế rằng công việc thiện của ông, các Kinh sách và các tịnh xá chẳng có hiệu lực gì cho ông ta cả. Chân lý chỉ có thể được tìm thấy qua sự trầm tư và nhìn thấy một cách thình lình. Do đó, ông đã rút về ẩn trú trong một hang động ở trong nú, tại đó ông đã ngồi đối mặt vào vách núi để suy tư nghiền ngẫm suốt mười năm. Kết quả của việc nầy là đôi chân của ông đã bị teo khô.

Phái Phật giáo Thiền Tông tin rằng sự cứu rỗi là vấn đề cá nhân. Những cái bề ngoài như nghi thức, Kinh sách và chùa chiềng đều vô dụng. Một người có thể được giác ngộ ở bất cứ nơi đâu, trong khi ngồi dưới một tàng cây hay một sàng nền đã quét dọn sạch. Người Phật giáo Thiền Tông nói rằng lý luận không đáng được tin cậy trong việc tìm kiếm sự giác ngộ, do đó người đang tham thiền (ngồi suy nghĩ) về những câu không có ý nghĩa gì thì một tia soi sáng lóe ra dẫn người đó đến chân lý.

Các nguyên lý thiền học đã đụng đến nhiều lãnh vực của cuộc sống người Nhật. Một điều trong số đó là quan niệm về “việc bất ngờ có kiểm soát” (controlled accident), nghĩ là điều không dự tính thì có giá trị hơn điều có dự tính. Nó thường được dùng trong lãnh vực nghệ thuật, kiến trúc, nghề gốm sứ, thuật cắm hoa, âm nhạc và thơ văn. Ví dụ như tranh vẽ được thực hiện trên giấy xốp thì không thể bị xóa đi và do đó nó đẹp hơn một tranh vẽ đã được dự định và được công tác một công tác một cách kỹ lưỡng.

Sự Chinh Phục Của Cộng Sản

Một lời tiên tri của Phật giáo thời xưa nói rằng sau 2500 năm, Phật giáo sẽ hoặc bị phai mờ hoặc được phục hưng. Theo các sứ giả của Phật giáo, thời kỳ định mệnh đó xảy ra vào ngày 24 tháng 5 năm 1949, khi Trung Hoa bị chủ nghĩa Cộng sản đánh bại. Người ta ước tính có khoảng hai trăm triệu người Phật giáo đại thừa đã ngã theo chủ nghĩa Cộng Sản. Các Phật Tử, là tín đồ của một tôn giáo hiền hòa, đã không chiến đấu lại. Chính Phật Thích Ca đã quở trách các môn đồ ông vì họ giận dữ đối với một sự tấn công vào một vị la hán. Ông đã nói: “Xấu hổ thay cho kẻ gây sự đánh trả lại”.

Người Cộng sản đã chiếm lãnh thổ nầy và lợi tức của các tịnh viện buộc các nhà sư già nua phải làm việc ngoài đồng ruộng hay trong các nhà xưởng. Những người trẻ hơn thì phải tham gia trận chiến ở Đại Hàn. Các ni-cô bị cưỡng bức phải lập gia đình, nhưng có một số khác đã quyên sinh hơn là vâng theo lịnh. Cuối cùng Mao Trạch Đông đã đình chỉ việc phá hủy các chùa chiềng và bảo tồn chúng, không phải để dùng làm chỗ thờ phượng tôn giáo, mà dùng làm các đài kỷ niệm của quốc gia.

Người Cộng sảng vẫn kiên trì và gây khó dễ. Họ đã được lòng một số nhà sư bằng cách dạy sự tương tự giữa chủ nghĩa Mác Xít và Phật giáo. Há không phải Đức Phật đã dạy về xã hội không có giai cấp sao, mà đó là mục tiêu của chủ nghĩa Mác Xít? Nhưng hai chủ thuyết là trái ngược nhau. Trong Phật giáo, con người không phải là một sinh vật kinh tế, mà mục đích của con người là thuộc linh. Chiến tranh đặt cơ sở trên lòng tham và bạo lực là điều sai trái. Đời sống tốt đẹp được đạt đến chỉ qua một hành động của ý chí tự do và của lý trí.

Điều nào sẽ thành công sau cùng - Thái độ thụ động của người Phật Tử hay là sự tự do tư tưởng của Phật Tử? Có lẽ câu trả lời là ở nơi những lời nói nầy của Đức Phật:

Hỡi các vị tỳ-kheo, đừng tin gì cả. Thầy của các ngươi chi giáo các ngươi chỉ xuất phát từ sự kính trọng đối với người. Nhưng, sau khi đã phân giải điều gì các ngươi tìm thấy chúng đem lại lợi ích cho mọi loài, thì đó là điều đáng tin, hãy giữ chặt lấy và dùng nó để dẫn đạo các ngươi.

ĐÁNH GIÁ VỀ PHẬT GIÁO

Trong sự đánh giá của chúng ta, như chúng ta đã làm trong các bài học khác, chúng ta sẽ nói ngắn gọn một số điểm mạnh và điểm yếu của Phật giáo. Sau đó, chúng ta sẽ đề ra một số nhịp cầu dẫn đến lẽ thật của Cơ Đốc giáo. Mục đích của chúng ta là giúp cho người Phật giáo đến cùng sự sống dư dật trong Đấng Christ.

Những Điểm Mạnh Của Phật Giáo

  • Nó nhấn mạnh những tiêu chuẩn luân lý và đạo đức cao.
  • Nó nhìn nhận sự xấu xa của sự vị kỷ và lòng kiêu ngạo.
  • Người sáng lập ra nó lưu tâm đến đời sống tự hy vọng.
  • Nó nhấn mạnh đến thái độ bề trong của một người.
  • Nó dạy sự từ bỏ mình như là một phần quan trọng của sự cứu rỗi.
  • Nó chống lại hệ thống giai cấp.
  • Hệ thống công lý của nó đề ra rằng một người phải gặt lấy những gì mình đã gieo.

Những Điểm Yếu Của Phật Giáo

  • Nó không nhìn nhận một hữu thể tối cao.
  • Các tín đồ của nó khuynh hướng tôn thờ người sáng lập ra nó.
  • Nó coi thường thân xác con người và những cảm xúc của thân thể là không có giá trị.
  • Nó cho rằng không có tội lỗi phạm cùng hữu thể tối cao.
  • Nó xu hướng về đời sống tu hành và khổ hạnh.
  • Nó không có hệ thống hay phương pháp cải thiện xã hội.
  • Nó chủ trương cái nhìn tiêu cực và thụ động về đời sống.
  • Nó duy trì niềm tin phổ thông về Karma (nghiệp quả) và sự chuyển kiếp.
  • Nó là một tôn giáo tự cứu mình. Sự cứu rỗi có được bằng những phương pháp ức chế tiêu cực.
  • Nó không cung ứng hy vọng nào về sự sống vui tươi của thiên đàng sau khi qua đời.

 

Định Giá Các Niềm Tin

Mối quan tâm của Phật giáo, cũng giống như của Khổng giáo, là về luân lý chớ không phải về tôn giáo. Nó không lấp đầy được khoảng trống vắng thuộc linh của con người. Chúng ta sẽ xem xét một số niềm tin của đạo Phật và chỉ ra cách để nối liền khoảng cách đó với Cơ Đốc giáo và sự sống dư dật trong Đấng Christ.

 

 

Đề Tài: Hữu Thể Tối Cao

Niềm Tin Của Phật Giáo. Đức Phật không nhìn nhận có một hữu thể tối cao, tuy nhiên, cuối cùng các môn đệ của ông đã gán những danh từ thần thánh cho ông. Theo người Phật giáo, tình trạng cuối cùng đem lại phấn khởi là niết bàn.

Nhịp Cầu Dẫn Đến Đức Tin. Nếu người Cơ Đốc và người Phật giáo nói chuyện cùng nhau, thì họ phải nói về sự cùng đích. Cùng đích của Cơ Đốc giáo là Đức Chúa Trời; cùng đích của Phật giáo là niết bàn. Người Cơ Đốc có quyền năng vô hạn của Đức Chúa Trời để nâng đỡ mình trong thế giới khó khăn và đầy đau khổ nầy. Chúa Jesus biết rằng không thể cách ly môn đồ của Ngài ra khỏi sự đau khổ của trần gian như cố gắng của Phật giáo muốn làm. Vậy thì Ngài đề nghị ra điều gì? Ngài đề nghị rằng Đức Chúa Trời giữ gìn con dân của Ngài khỏi điều ác trong thế gian. Đây là sự cùng sinh tồn đầy bình an.

Lẽ Thật Kinh Thánh.

Heb 11:6 “... Có Đức Chúa Trời và Ngài là Đấng ban thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài”.

IICo 5:8 “...Chúng ta muốn lìa bỏ thân thể nầy đặng ở cùng Chúa thì hơn”.

Gi 17:15 “Con chẳng cầu xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ cho khỏi điều ác”.

 

 

Đề Tài: Luân Lý Về Thiện Thắng Ác

Niềm Tin Của Phật Giáo. Phẩm chất cao của luân lý Phật giáo là đáng ca ngợi. Ai sẽ cãi nhau với Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo? Công lý đạo Phật chủ trương rằng ai gieo gì thì gặt nấy. Người lành và người ác sẽ nhận cái điều xứng đáng cho mình. Phật giáo dạy hãy lấy thiện báo ác.

Nhịp Cầu Dẫn Đến Đức Tin. Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo là những luân lý tốt. Nhưng nguồn gốc năng lực để giữ các tiêu chuẩn đó là gì? Một người phải lấy thiện trả ác, nhưng làm cách nào họ có thể làm được khi mà họ vẫn sống trong thế gian nầy? Một người chỉ có thể làm được cái điều mình nên làm khi người đó đã đến chỗ chấm dứt cuộc chiến và khi đó đã chết rồi, đó không phải là chiến thắng ! Đấng Christ ban cho quyền phép để sống đời sống vô vị kỷ trong khi chúng ta vẫn sống trên đất nầy. Ngài không đòi hỏi phải nhiều năm nghiền ngẫm. Ngài hứa ở cùng chúng ta và Đức Thánh Linh ở trong chúng ta khiến chúng ta làm được việc đó.

Lẽ Thật Của Kinh Thánh.

Ro12:20 “Nếu kẻ thù mình có đói, hãy cho ăn, có khát hãy cho uống.... Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện thắng điều ác”.

Ga 6:7-8 “Đức Chúa Trời không chịu khinh dễ đâu, vì ai gieo giống chi lại gặt giống ấy... Kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời”.

Mat 28:20 “Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế”.

 

 

Đề Tài: Luân Lý Về Dục Vọng Và Khổ Đau

Niềm Tin Của Phật Giáo. Nan đề của nhân loại là sự khổ đau; nguyên do của khổ đau là dục vọng. Dùng sự suy tư mà khử trừ dục vọng cho đến khi được giác ngộ (hay được soi sáng). Sự đau khổ là ác, nó phải bị cắt bỏ bằng mọi giá. Hãy cắt đứt cành cây bạn ngồi trên đó, cho dầu sự hủy hoại xảy ra với nó. Lời nói sau cùng của Đức Phật là “Hãy sốt sắng phấn đấu để làm ra sự cứu rỗi của riêng mình”.

Nhịp Cầu Dẫn Đến Đức Tin. Chúa Jesus Christ đã không thấy có lý do gì phủ nhận sự đau khổ hay loại trừ nó. Ngài đã chấp nhận nó. Ngài đã mang gánh nặng với sự đau khổ của chúng ta. Ngài nếm sự chết vì mọi người. Bởi quyền phép của Đức Chúa Trời, sự khổ đau đã có thể được biến đổi thành phép lạ cứu chuộc. Nó không là chướng ngại cản trở sự giải cứu, mà nó có thể là một phần của chính sự giải cứu. Qua sự khổ đau, thế giới được mang lại cùng Đức Chúa Trời. Lý tưởng của Phật giáo là không còn cảm xúc, lý tưởng của Cơ Đốc giáo là sống với sự đồng cảm (động lòng trắc ẩn). Đó là ý nghĩa của thập tự giá. Đấng Christ đã tạo ra sự hòa bình (bình an) qua cây thập tự của Ngài.

Lẽ Thật Kinh Thánh

He 2:9 “Bởi ân điển của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Jesus đã vì mọi người nếm sự chết”.

IGi 2:16-17 “Vì mọi sự trong thế gian, như sự mê tham của xác thịt, mê tham của mắt và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế gian mà ra. Vả, Thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời”.

 

 

Đề Tài: Sự Cứu Rỗi

Niềm Tin Của Phật Giáo. Sự cứu rỗi là một sự tự do tự tạo thoát khỏi mọi sự khốn khổ. Bằng sự trầm tư, một người có thể hoàn tất nhiều hơn về Karma và sự chuyến kiếp. Vị Bồ Tát quyết định ở lại lâu hơn để giúp đỡ những người khốn khổ khác trên đường họ đi. Vì thế, ông là một vị cứu tinh. Sự cứu rỗi không đòi hỏi việc đóng đinh bản ngã. Không có bản ngã, không xó sự đóng đinh nào cần đến, không có cảnh tượng ghê sợ nào được nhìn thấy bên vệ đường. Đức Phật đã nằm xuống trong khi Đấng Christ chết trong vị thế thẳng đứng. Đối với người Phật giáo, điều nầy bày tỏ sự thanh thản của vị nầy (Đức Phật) và sự thống khổ của vị kia (Đức Chúa), người đã cố gắng thay đổi những sự việc nầy mà đã phải bị hủy hoại chính mình.

Nhịp Cầu Dẫn Đến Đức Tin. Tội lỗi, chớ không phải dục vọng, là căn bản của mọi sự khốn khổ. Đấng Christ đã mang tội lỗi của chúng ta trên cây thập tự . Sự cứu rỗi là tiếp nhận Ngài bằng đức tin, ngoài ra chẳng còn thêm gì nữa. Ngài là Cứu Chúa duy nhất và là Đấng Trung Bảo giữa Đức Chúa Trời và loài người. Tại sao sự đóng đinh là cần thiết? Gô-gô-tha bày tỏ rằng Đức Chúa Trời đã tự mặc lấy thịt và huyết, do đó Ngài có thể vào nơi sâu thẳm của điều ác. Ngài chấp nhận nó. Ngài đã không làm ngơ hay né tránh nó. Ngài đã xem sự đóng đinh là giá phải trả để được sự cứu rỗi. Sự cách ly là một vấn nạn trong Phật giáo. Người Phật Tử có thể để cho tư tưởng thiện chí phát ra đến kẻ khác bằng sự trầm tư. Nhưng cá nhân người đó không can dự vào. Phật giáo không đòi hỏi hành động. Chữ agape (tình yêu) của Cô Đốc giáo có nghĩa là sự can dự vào, một người không tự cách ly chính mình. Người đó chấp nhận khổ đau và xem nó là một phần của chính mình. Agape, từ ngữ chỉ về tình yêu theo Kinh Thánh, có thể được dịch là “hành động cứu chuộc”.

Lẽ Thật Kinh Thánh.

IPhi 2:23 “Ngài đã gánh tội lỗi của chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta là kẻ đã chết về tội lỗi, được sống cho sự công bình, lại nhơn những lằng đòn của Ngài mà anh em được lành bệnh”.

Cong 4:12 “Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác, vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác..... để chúng ta phải nhớ đó mà được cứu”.

IGi 4:7-9 “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chúng ta hãy yêu mến lẫn nhau, vì sự yêu thương đến từ Đức Chúa Trời... Ai chẳng yêu thì không biết Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương. Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều nầy: D9ức Chúa Trời đã sai Con một của Ngài đến thế gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống”.

Đối với người Cơ Đốc, là người đã chấp nhận thế gian như là tạo vật của Đức Chúa Trời, thì đời sống không đồng nghĩa với sự đau khổ. Sự đau khổ là kết quả của việc con người từ ban đầu đi xa cách khỏi Đức Chúa Trời, và nó chỉ là một khía cạnh của kinh nghiệm của con người trong cuộc sống. Đức Chúa Trời không muốn cho con người mà Ngài đã tạo dựng theo hình ảnh Ngài bị chì vào trong sự lãng quên. Đức Chúa Trời muốn ban cho tạo vật của Ngài cuộc sống với tất cả sự đầy đủ của nó. Đây là sự cứu rỗi.

Vấn đề đặt ra cho mọi người Phật giáo ngày nay là: “Về Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, các ngươi nghĩ thế nào?. Về đề tài nầy, Đức Phật Thích Ca vẫn giữ im lặng mãi mãi. Còn câu trả lời của bạn thì sao?