Erasmus, Deside Of Rotterdam

ERASMUS, DESIDE OF ROTTERDAM

(1467-1536)

Một nhân vật lừng danh của phong trào phục hưng văn nghệ ở Âu Châu, là bạn thân của Thomas Morus. Deside Eramus là người tiếng tăm hơn hết của nhóm Nhân đạo học. Deside Eramus được sanh ra tại Hòa Lan năm 1467 (hay 1466). Ông sớm mồ côi cha mẹ, nên bị đưa vào tu viện Stein. Ông tư chất thông minh, tài trí, học khoa nào cũng thông thái. Ông tỏ ra chẳng thích ứng với đời sống tu hành. Ông ở tu viện 5 năm, rồi nhờ ông Tổng Giám Mục Cambray bảo lãnh rời khỏi nhà tu. Sau khi thọ phong chức Linh mục năm 1492, ông từ chức linh mục và đến Paris học triết lý nghiêng về phái Phiền tỏa. Sau một thời gian dạy các sinh viên Anh đang theo học tại Pháp, ông đã đi du lịch nhiều nơi ở Âu Châu, gặp gỡ trao đổi với nhiều học giả nổi danh đương thời. Năm 1521, ông thường trú tại Bâle, Thụy sĩ. Ông trước thuật rất nhiều sách, về sau có liên hệ thân mật với nhóm Cải chánh. Đặc biệt văn từ ông có một giọng mỉa mai cay độc, với lối lý luận sắc bén, trình bày vấn đề nào cũng sáng tỏ. Ông đã lợi dụng ngòi bút trào phúng sở trường của mình mà kích bác những tu sĩ kém học hay sự hẹp hòi của phái Phiền tỏa, và nhất là những tay chuyên đi bán các "chứng chỉ giải tội". Ông cũng ưa châm chọc những người có chứng tật xấu; thậm chí Giáo hoàng ông cũng chẳng từ! Thế mà chẳng ai dám đá động đến ông, là vì sách ông viết quá cao ít có kẻ có khả năng đọc, lại thêm tài cao học rộng cho nên kẻ thù phải kiêng nể, dè dặt. Không có mấy ai dám lên tiếng tranh luận với ông.

Deside Eramus viết khá nhiều, song công việc sáng giá đáng lưu danh của ông là Nhuận chánh và xuất bản quyển Thánh Kinh Tân Ước bằng Hi văn năm 1516 và ông cũng tự nhiên dịch Tân Ước ra La tinh ngữ. Về sau bản Thánh Kinh Tân Ước Hy-lạp ấy làm tiêu chuẩn cho phần nhiều các bản dịch các thứ tiếng Âu Châu. Đó là việc làm có ý nghĩa dọn đường cho cuộc Cải chánh. Ngày nay bản Thánh Kinh của Deside Eramus được coi là bản Texte Recu. Một tác phẩm nữa cũng khá nổi bật của ông là cuốn "Praise of Folly" (Ca ngợi sự điên cuồng) quyển này được lưu hành rất rộng rãi. Ngoài ra ông còn gia công chuyển ngữ các sách vở của Origen, Athanasius và Chrysostom ra tiếng La tinh. Nhờ các văn phẩm này đã tạo sự dễ dàng cho những người nào muốn nghiên cứu nguồn gốc Đạo Chúa. Ông cũng viết các sách giải kinh, sách luận về chức vụ truyền đạo, cùng minh giải về bổn phận tín đồ Cơ Đốc giáo. Ông có một ước muốn cuồng nhiệt là làm sao tất cả những Cơ Đốc nhân không phân biệt ai đều có thể đọc và học hỏi Thánh Kinh bằng tiếng mẹ đẻ của mình để có thể biết rõ đạo Chúa.

Trong khi diễn giải đăng đàn ông ưa lên án những điều luật phiền toái do loài người đặt ra; chỉ trích các nghi lễ nào nhuốm màu sắc Do thái giáo mà Giáo hội du nhập để đòi buộc kẻ ít học, đơn sơ làm giàu cho bọn tăng lữ. Ông gọi hàng giáo phẩm của Giáo hội là "Vương quốc của phái Pha-ri-si". Bởi trong tầm nhìn của ông và mọi người đương thời, từ Giáo hoàng đến Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám mục, Linh mục và tín hữu đều ngày càng mất phẩm chất, hủ hoại và lún chìm trong thói buông tuồng.

Nhìn chung về cuộc đời và sự giảng dạy, biên soạn các văn phẩm, dịch Tân Ước mà mạnh dạn kháng cự, nhạo cười các tệ nạn sa đọa của giới Giáo hội cao cấp đều là những việc làm mà Đức Chúa Trời đã sử dụng để vạch đường cho việc Cải chánh. Và những tín hiệu tích cực đã phát đi ngay trong thời gian Deside Eramus còn sống.

Deside Eramus qua đời năm 1536.