Elliot, John

ELIOT, JOHN

(1601-1690)

Người được mệnh danh là "Vị Sứ đồ của người da đỏ" đó là ông John Eliot. Ông John Eliot ra đời ở nước Anh năm 1601. Thân phụ ông qua đời khi ông còn thơ ấu. Ông theo học ở đại học Cambridge 8 năm. Sau khi tốt nghiệp ông đi dạy học. Năm 27 tuổi ông được phong chức Mục sư trong Hội Thánh ở Anh Quốc. Một thời gian ngắn sau đó, ông cùng 6 anh chị em di cư qua Hoa kỳ. Một năm sau, cô Hannah Mumford, vị hôn thê của ông cũng đi theo qua đó, và hôn lễ hai người được cử hành ở Rosbury Massachusetts. Trong 60 năm vợ chồng vị Mục sư hết lòng tận hiến và nhân từ này đã đảm nhiệm Hội Thánh và bầy chiên Chúa tại Roxbury cách đầy ơn và kết quả.

Nhưng lòng ông vẫn được thôi thúc hướng về người dân da đỏ, ông tin chắc sắc dân này cũng có linh hồn như mọi dân tộc khác. Ông cảm nhận rằng chính ông có trách nhiệm phải đem Tin lành cứu vớt họ. Thuở ban đầu, thật khó mà dò lòng những người dã man này. Nhưng ông bà tỏ ra hết sức tử tế, thân thiện với họ nên chẳng bao lâu họ quyến luyến ông rất mực. Cứ cách hai tuần một lần, mỗi buổi sáng ông cưỡi ngựa đến thành phố Natick. Có một số kỵ sĩ đang tụ tập ở đó, và ông John Eliot là Mục sư phụ trách Hội Thánh họ ở Roxbury, và những người da đỏ cũng tập họp lại để nghe ông giảng đạo Chúa nữa. Sau 10 năm mới có chừng 50 người trở lại đầu phục Chúa.

Ngoài Thánh Kinh, ông John Eliot còn dạy cho họ biết trồng trọt, chăn nuôi, xây cầu, làm nhà, ăn mặc, sửa soạn nhà cửa ngăn nắp vệ sinh nữa. Ông luôn muốn giúp cho họ có đời sống vật chất dễ chịu hơn. Lúc đầu ông phải giảng bằng Anh ngữ qua một anh thông ngôn, từ năm 1646 cho đám đông da đỏ ở Dorchester Mills, nhưng dần dà ông đã nói và giảng bằng tiến của họ cách thành thạo.

Lần thứ hai ông cố gắng đem đạo Chúa cho người da đỏ tại Nonanlum. Ông cũng đã sống chung với họ qua suốt mùa đông lạnh lẽo, tuyết sa dày đặc. Chúa ban cho ông ngày càng có nhiều dân da đỏ tin nhận Chúa hơn. Mùa hè năm 1647 ông mới bắt đầu giảng bằng thổ ngữ của họ. Ông cũng tổ chức Ban truyền giáo của chính họ đem Tin lành cho đồng bào mình. Ông đã để thì giờ dịch Thánh Kinh ra thổ ngữ dân da đỏ. Tân ước dịch xong năm 1661, và Cựu ước hoàn tất năm 1663. Ông hy sinh tận tụy với chức vụ, dầu ông muốn sống bên cạnh họ, nhưng vì làn sóng xâm lược của thực dân da trắng thời bấy giờ mà họ thù ghét người da trắng, nên ông không thể cư ngụ lâu được.

Năm 1651, ông được phép lập một làng cho dân da đỏ ở đồng bằng Naliet. Đây là những cộng đồng Cơ Đốc người da đỏ, có 14 cộng đồng như thế, tổng số tín hữu là 1100 người. Ông John Eliot cũng nghĩ đến sự phát triển Hội Thánh Chúa tương lai giữa người da đỏ, nên ông lập trường huấn luyện cán bộ lãnh đạo và đem Tin lành cho dân đồng chủng của họ. Khi ông qua đời đã có 24 người nối bước ông mà làm công tác này. Ông John Eliot rất siêng năng lưu hành đây đó công bố Phúc Âm, nhưng thường bị chống đối. Ông là người rất liêm khiết, sống đơn sơ, giàu lòng thương người lạc mất, chịu thiếu thốn, khổ sở vật chất để có thể làm tốt thiên vụ Chúa giao.

Trong một trận chiến với vua Philip của nước Anh, đa số Cơ Đốc nhân da đỏ thất lạc. Và cũng có nhiều tín giáo trung thành với người Anh nên ông Mục sư Giáo sĩ John Eliot cũng bị nghi kỵ. Sau cuộc chiến chỉ còn lại 4 cộng đồng, rồi lần lần cũng bị hao mòn. Ông Giáo sĩ tiền phong cho dân da đỏ này cũng là một nhà văn, sáng tác và dịch giả tài ba và đầy ân tứ. Ngoài việc dịch Thánh Kinh ông cũng viết nhiều sách giáo lý để dạy Đạo Chúa cho tín đồ của ông. Ông bà John Eliot có 6 người con. Ông bà hết sức thương yêu người da đỏ. Vì sự tận lực quên mình của ông bà truyền giáo đáng khâm phục này mà nhiều người da đỏ đã biết đến Chúa và tôn thờ Danh Ngài. Ngày nay con cháu họ cũng còn ghi nhớ công ơn của ông bà John Eliot.