Tìm kiếm

Lời Chúa cho bạn hôm nay:

OpenBible Hỡi Anh em, tôi nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, khuyên anh em thảy đều phải đồng một tiếng nói với nhau, chớ phân rẽ nhau ra, nhưng phải hiệp một ý một lòng cùng nhau. 1 Cô-rinh-tô 1:10

Cranmer, Thomas

CRANMER, THOMAS

(1489-1556)

Các bộ lịch sử Giáo hội Cải chánh dầu là tác giả nào, cũng đều dành địa vị xứng đáng, chẳng tiếc lời ca tụng đặt biệt đối với Luther Calvin, Zwingli là những gương mặt nổi bật của phong trào Cải chánh ở lục địa Âu Châu. Nhưng tại Anh Quốc, ai là nhà đại Cải chánh? Đối với Cranmer tiên sinh, dầu ông chẳng phải là nhà đại Cải chánh, nhưng với chức vụ Tổng Giám Mục ở Canterbury, ông đã tiếp thu nồng nhiệt các tư tưởng đổi mới Giáo hội tận gốc, cùng bảo bọc các nhà Cải chánh Âu Châu cũng như quê hương ông, và ông cũng có công đầu trong việc đặt nền móng cho cuộc Cải chánh ở Anh. Suốt 23 năm nắm giữ chức vụ cao cấp của Anh Giáo, ông đã tận hiến cả sức lực, thì giờ, trí tuệ ngay đến sanh mạng mình cho công cuộc hệ trọng này. Có một sử gia đã nhận định thế này về ông: "Thomas Cranmer có lẽ là nhân vật có nhiều trách nhiệm rộng rãi trong việc khuôn đúc Giáo hội Cải chánh ở Anh Quốc"

Cranmer ra đời tại Asclacton, vùng Nottinghamshire nước Anh, năm 1489, ông là con trai của một điền chủ. Lúc nhỏ rất thích cưỡi ngựa, và khi lớn lên đã trở thành một kỵ sĩ có tài ở miền Northampson. Bước đầu ông theo học ở trường Cao đẳng Giê-xu, kế đến là Đại học Cambrige, và được tấn phong làm Linh mục năm 1523. Cranmer là người khá thông minh, tuấn tú. Mới 14 tuổi đã say mê Hi văn và mau thông thạo cổ ngữ này ở Cambridge. Ông lần lượt đoạt được hai học vị cử nhân và phó tiến sĩ dễ dàng trong một thời gian ngắn. Ông được chọn đọc Thánh Kinh ở trường Cao đẳng Hegdalen, là một vinh dự thời bấy giờ. Vì tội "kết hôn" nên ông bị ngưng chức theo luật La mã giáo. Năm sau vợ ông đột ngột qua đời và ông được phục chức. Ông vẫn còn là một học giả trầm lặng cho tới khi ông bất ngờ được triệu hồi đến Canterbury nhận chức Tổng Giám Mục năm 1532. Điều này diễn tiến liền sau khi ông cố vấn cho vua Henry VIII trong việc ly dị của vua này. Cũng có thời kỳ ông tham chính, và được nhà vua cử đi làm sứ thần ở nhiều nơi.

Năm 1529, Henry VIII xin phép Giáo hoàng để phế bỏ và ly dị bà Catherine Aragon, nhưng không được, thì Cranmer liền hiến cho vua một diệu kế là nhà vua hãy gởi thư hỏi ý kiến các nhà trí thức, giới học giả và các giáo sư Đại học về việc hôn nhân của ông có đúng luật của Chúa không? Tự nhiên là không, vì em chồng không thể kết hôn với chị dâu được. Từ đó ông càng được Henry VIII tin dùng và tôn phong ông chức Tổng Giám Mục thành phố Canterbury kế nhiệm cho Tổng Giám Mục Warhem qua đời năm 1532.

Năm 1533 ông dùng giáo quyền hủy bỏ cuộc hôn nhân của vua Henry VIII với bà Catherine, và 3 năm sau ông hợp thức hóa sự kết hợp giữa Henry 8 với bà Anne Boleys, ông dùng cảm tình hoặc áp lực mà cho phép Henry VIII cưới thêm bà Anna Cleves, rồi lại cho phép ly dị (?). Ông là một trong những người dự phần soạn thảo tập Quy điều 10 mục năm 1539, và cổ xúy cho việc phổ biến Thánh Kinh Anh ngữ cách rộng rãi sau năm 1611.

Năm 1632, Cranmer tục huyền với cô tên Mageret Osiander là cháu gái của nhà Cải chánh Andreas Osiander. Nhà Cải chánh này đến năm 1539 thì bỗng dưng mất tích. Có nghi vấn cho rằng ông bị xử thiêu bí mật hay mai danh ẩn tích ở đâu đó. Cranmer cứ tiếp tục ngồi trên ghế uy quyền của mình suốt thời gian cai trị đầy sóng gió của Henry VIII và giữ được sự kính trọng của ông vua chuyên chế này cho đến cuối triều đại của ông. Sau khi Henry VIII khuất bóng rồi, ông lại trở thành cố vấn đắc lực và có ảnh hưởng của vua Edward VI. Kế đó ông lãnh đạo trào lưu Cải chánh Giáo hội trong thời trị vì của Edward VI, ông nhiệt tình cổ vũ và tiếp sức cho việc tuyên truyền cho đường lối cải sửa Giáo hội cả bên trong lẫn bên ngoài. Nhưng "Đất bằng dậy sóng" nổi lên trong cuộc đời và thiên chức ông khi Mary khát máu lên cầm quyền. Bà hoàng này đã bãi chức ông và tử hình ông bằng lối xử thiêu vì bị kết tội là "tà giáo" ở Oxford năm 1556. Bà hoàng dã man này cũng kết án Cranmer là phản bội và hành khổ mẹ bà là bà Catherine Aragon trước kia, nhưng khi xét xử thì bà chưa giết ông ngay lúc dó. Dầu vậy bà vẫn ra lệnh cầm ngục Tổng Giám Mục đáng trọng này, còn bản án: "lạc đạo, tà giáo" của ông vẫn bị xử y án treo đó.

Cuối cùng Tổng Giám Mục Cranmer vẫn bị đưa ra xử trong phiên tái thẩm và bị lăng nhục. Nhưng vì tuổi già sức yếu nên ông bị thúc ép mà chối bỏ khuynh hướng theo Cải chánh của mình mà trở về La mã giáo, chấp nhận "Biến hình thuyết". Sở dĩ Cranmer có thái độ tiền hậu bất nhất ký tên vào biên bản nhượng bộ như vậy, vì các sử gia chứng rằng: Một là do tuổi tác mất sáng suốt, hai là bị cạm bẫy phỉnh dụ từ bà hoàng Mary Tudor. Nhưng khi đưa đến đại giáo đường St Mary tại Oxford vào ngày 21 tháng 3 năm 1556, tiến sĩ Cole ra mặt khuyến cáo ông hãy công khai tuyên bố phản đạo Cải chánh trước một số đông giáo dân, hàng giáo phẩm và công chúng đi thì được ân xá ngay.

Thật là một phiên tòa căn thẳng, hồi hộp, Cranmer tiên sinh đứng trước tình thế này đối phó ra sao: Như Thánh Phao-lô ngày xưa ở Sê-sa-rê trước mặt vua Agrippa, Cranmer liền hùng dũng đứng bật dậy giảng thuyết một bài đã được soạn sẵn mà lửa Thánh Linh đã âm ỉ trong lòng ông lâu nay. Ông hùng hồn xác nhận đức tin không lay chuyển của mình nơi Giê-xu, Cứu Chúa duy nhất và Tin lành tinh tuyền của Ngài. Quyết tâm bước theo Ngài đến cùng, không khi nào trở về Cựu giáo La mã nữa! Thế là lòng căm tức của bọn tăng lữ được dịp bùng phát, chúng hò hét và lôi ông ra pháp trường để thiêu sống. Khi giàn hỏa bốc cháy và ngọn lửa bạo tàn táp vào da thịt ông, ông bèn giơ tay phải lên và dõng dạc hô vang: "Vì tay này đã ký vào văn thư chối bỏ đức tin, hèn nhát quy phục nên phải bị thiêu trước!" Và vị Liệt sĩ Thánh thời Trung cổ này đã bất khuất hy sinh vì chính nghĩa Thiên đàng, ai nấy chứng kiến thảm cảnh này đều khâm phục, rơi lệ. Niên lịch ghi ngày 21-3-1556.

Cranmer là một người treo gương sáng về lòng sùng kính Đức Chúa Trời. Bản chất ông nghiêm trang theo khuôn thước của người dân Anh. Ông rất nhạy bén, can đảm, thận trọng và đắn đo trước một quyết định quan trọng nào, ông phải suy nghĩ kỹ trong tình hình đầy dẫy loạn lạc và phản bội. Ông mở đường lối Cải chánh theo phương thức mềm mại hơn là tàn bạo. Giống như Luther, ông đặt nặng và cẩn thận trong vai trò "một người hành chức sùng kính". Người đã nhận được ân ban từ Đức Chúa Trời, luôn giữ vững tổ chức chặt chẽ và để phạm vi truyền đạt Phúc âm được tự do.

Tổng Giám Mục Cranmer là người chịu trách nhiệm cho quyển "Đại Thánh kinh" được hình thành (1538) và những lời tựa trong quyển sách đó. Quyển Litany viết khoảng năm 1545 và hai quyển sách cầu nguyện (Kinh đào) khoảng những năm 1549 - 1552. Ông còn khai thác và bồi dưỡng cho các Điều luật của Giáo hội Cải chánh (Xuất bản năm 1571), ông cũng là người bảo vệ vững chắc các giáo lý về Thánh lễ năm 1550, ông cũng đặt tiền đề (Articles) của Giáo hội Anh qua 2 quyền sách của ông, 'The Homilies" và "The Institutes of Christian Man" ông cũng dày công trong việc biên soạn các sách về nghi thức thờ phượng theo Anh quốc giáo.

Về giáo lý Tiệc Thánh, Cranmer tán đồng ý kiến của Zwingli. Ông còn tỏ ra là một người đầy tham vọng khi đề xuất kế hoạch hợp nhất các Giáo hội Cải chánh cả Châu Âu và Anh quốc lại làm một, bằng chứng là ông đã đích thân chiêu mời các nhà Cải chánh sang nước Anh cộng tác như Peter Mertyl, N. Bucer. Ông dứt điểm hủy bỏ các lễ nghi theo hình thức cựu giáo (La mã).

Có một nguồn lực từ thiên thượng mạnh mẽ thúc đẩy ông nóng cháy sửa sang Hội Thánh Tây phương theo đức tin phổ thông mà từ lâu nó đã bị quên mất, khi Giáo hội La mã từ chối cải cách, Cranmer đã tự mình đứng lên cải sửa Giáo hạt riêng của ông là Canterbury. Ông đã hướng Công đồng Giáo hội theo đường lối của Luther và Calvin ở Âu lục, nhưng riêng Mélanchthon thì Cranmer đã phê bình có chứng cớ là "Một người quá sợ hãi"

Việc làm nổi bật thứ hai tương hệ đến Tổng Giám Mục Cranmer là cải đổi sinh khí Thần học đặt nền tảng trên kinh nghiệm của mỗi cá nhân Cơ Đốc hữu và trên chính công nghiệp vĩ đại của Đấng Christ. Từ quan điểm giáo lý về Chúa Christ đến tính chất Thần học về sự xưng công nghĩa bởi đức tin, theo Cranmer và sự hiện hữu của Đấng Christ trong các Thánh lễ. Vấn đề tập chú thứ ba của ông về Thánh Kinh. Nằm bên trong tâm nhãn cao hơn của ông về Thánh Kinh và truyền khẩu và ý nghĩa về sự liên hiệp với Chúa Christ.

Một đài kỷ niệm sự tuẫn tiết vì đạo cách anh dũng của Cranmer được dựng lên ở tại Oxford, tại đó cũng có những gương mặt oanh liệt khác như Ridley và Lat timer nữa. Là những người đã bị bức tử vì đức tin kiên định của mình nơi Chúa Giê-xu và những gì mà họ đã giảng dạy, và chính Cranmer đã chứng kiến ý chí không chịu hàng phục của hai thánh đồ này một năm trước đó.