Tìm kiếm

Lời Chúa cho bạn hôm nay:

OpenBible Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức lực của chúng tôi, Ngài sẵn giúp đỡ trong cơn gian truân. Thi thiên 46:1

Carnegie Dale

CARNEGIE DALE

(1875-1955)

Một trong các tiểu sử các danh nhân của Cơ Đốc giáo trên thế giới đã nâng cao tinh thần trong sự cùng cực của đời sống vật chất lẫn tinh thần của nhiều người, đó là cuộc đời và sự nghiệp của ông Dale Carnegie. Ông Dale Carnegie là một người Hoa kỳ, sanh trưởng ở bang Missouri, năm 1875. Thân phụ ông vốn là một nông gia nghèo, mẹ ông hành nghề giáo viên ở làng. Dầu xuất thân gia đình bần hàn, nhưng được ưu điểm là Dale Carnegie khá sáng trí và chăm học. Vì gia đình quá khó khăn, ông không có tiền nội trú gần trường, nên hằng ngày ông đã phải vượt hàng chục dặm bằng ngựa để đi học. Sau những giờ ở trường, về nhà ông phải vùi đầu lao động cật lực phụ giúp gia đình, nào là vắt sữa bò, bửa củi, cho heo ăn, tối đến chỉ đốt ngọn đèn dầu lù mù theo đuổi việc đèn sách. Ông ham mê học cổ văn cho tới khi mắt mờ đi ngủ quên trên sách luôn! Ông thường nửa đêm mới đi ngủ mà 3 giờ sáng đã phải thức dậy dể chăm nom gia súc trước khi đi học.

Trường học của ông lúc ấy có 600 học sinh, mà ông thuộc diện 6 học sinh nghèo nhất. Quá tủi nhục và mắc cỡ về tình cảnh khốn khổ của mình, ông tự tìm một cách thức nào đó để bạn bè nể nang mình hơn. Chỉ có hai cách: một là đoạt giải trong các môn thể thao, hai là thắng trong các cuộc tranh biện trước mặt các bạn đồng lớp! Ông đã chọn giải pháp thứ hai. Ông bất đầu soạn thảo các bài diễn thuyết mình trên lưng ngựa từ học đường về nhà, hoặc lúc đi tới trường, cả trong khi vắt sữa bò, bửa củi. Mặc dầu ông rất hăng hái và siêng năng, song ông cứ phải thấy mình nhiều khi thua cuộc. Rồi ông ra đời làm đủ thứ nghề, bươn chải khắp nơi, nhưng bước công danh dường như chưa mỉm cười với ông. Ông là dạng học sinh mà ngày nay người ta thường gọi là "Học sinh nghèo vượt khó".

Sau xin Hội thanh niên Cơ Đốc YMCA vào dạy một lớp về "Nghệ thuật nói trước công chúng" cho các thương gia và những người có chức có quyền lớn tuổi cần học thêm môn này "Tu nghiệp tại chức". Nhiều bạn bè, những người quen thân tỏ ý hoài nghi cho sự thành công của ông trong công việc này. Nhưng kết quả không ngờ! Tiếng tăm ông trên lãnh vực này đã đồn vang khắp nước Mỹ, ở NewYork, Philadelphia, Baltimore... đâu đâu cũng có các lớp giảng dạy của ông. Tại NewYork thường có chừng 2500 học viên đến dự giờ dạy của ông. Người hâm mộ môn học hùng biện do ông hướng dẫn có khi phải đi hàng trăm cây số, hàng ngàn dặm để thụ giáo. Ông đã phê bình 150000 bài diễn văn. Tên tuổi và tài năng của ông vang dội tận Châu Âu, ở Paris, Luân Đôn... Năm 1912 là năm cao điểm của thời kỳ thịnh đạt trong đời sống ông, mỗi phút ông kiếm được 1 Dollar, tức mỗi giờ là 60 Dollar. Tổ chức Dale Carnegie ra đời và đã có mặt hầu như khắp lãnh thổ Hoa Kỳ, cả ở Âu Châu, Canada, Australia, South America, South Africa, Hongkong, Philippine... Ông Dale Carnegie đã viết và xuất bản 6 quyển sách về loại nghệ thuật thành đạt trong nhiều ngành nghề trên thế giới. Ba cuốn sách có giá trị nhất của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, là "Publishing Speaking and influence men in business" (Nghệ thuật nói trước công chúng và phương pháp chinh phục người khác bỏ vốn làm ăn); "How to stop worrying?" (Quẳng gánh lo đi và vui sống). Phần Việt ngữ các sách này đã được cố học giả Nguyễn Hiến Lê dịch và dẫn giải khá kỹ.

Dale Carnegie là vĩ nhân của thế giới, không ai phủ nhận, nhưng ông cũng là người có lòng yêu mến Đức Chúa Trời rất mực trung thành và hầu việc Ngài tận tụy theo chức nghiệp của mình. Ông đã làm chứng về đức tin trong Chúa khiến cho ông bước lên ghế thành công và danh vọng như sau:

"Lúc còn trẻ tuổi, song thân tôi làm việc rất vất vả, cực khổ so với hàng triệu người dân Mỹ khác. Sau nhiều thập niên làm ăn thất bại, ăn uống kham khổ, gia đình cha mẹ và anh em tôi chẳng những không có một xu dính túi, mà còn mang nợ đến nước phải cầm vườn cố trại. Năm thân phụ tôi 47 tuổi (1894), người đã trải qua 30 năm trường đầu tắt mặt tối, người chỉ chuốc thêm vào thân nợ nần và nhục nhã. Chịu không nổi người sinh ra âu sầu, sức lực hao mòn. Mặc dầu làm lụng lao nhọc cả ngày ở ngoài đồng, nhưng mỗi bữa ăn ông cũng phải uống thuốc tiêu thực (thuốc uống cho tiêu cơm). Tôi thường nghe mẹ tôi kể lại: Hễ ba tôi đi vắt sữa bò mà hồi lâu không thấy vô nhà, thì mẹ tôi vội vã đi tìm, vì sợ sẽ trông thấy xác chồng lủng lẳng ở một đầu sợi dây thừng! Có hôm đi Maryville về, đi ngang qua dòng sông, người gò lưng cương đứng đó hồi lâu, phân vân là có nên nhảy xuống đó cho rồi đời không?

Nhưng một hôm ba tôi tỉnh ngộ vì nhờ lòng mẹ tôi quyết tin rằng nếu ta hết lòng kính yêu Chúa và tuân hành lời Ngài dạy, thì rồi ra những nỗi nhọc nhằn, lo lắng nào, Ngài sẽ lo liệu cho. Vì đức tin bền vững đó mà thân phụ tôi được khích lệ, lại càng nắm chặt Lời Chúa và quyết tâm sống đẹp lòng Ngài. Bởi vậy, Chúa đã thương xót, cứu giúp cho chúng tôi tai qua nạn khỏi, gia đình chúng tôi "thoát cơn bỉ cực tới hồi thái lai" đến hồi giàu có sung túc, và ông thân tôi được Chúa cho sống thêm 42 năm nữa! Cho đến năm 1941 người mới qua đời bình an, thọ 89 tuổi.

Mẹ tôi bảo rằng, và tôi cũng thực chứng trong đời sống tin kính của bà và của tôi, qua những tháng năm phấn đấu thật đau lòng đó, không khi nào mẹ tôi ưu phiền đến nỗi tuyệt vọng cả. Có điều gì buồn lo đau đớn thì bà thường đến với Chúa. Mỗi sáng và tối, bà thường khuyến giục và hướng dẫn cả nhà đọc Thánh Kinh và cùng quỳ gối cầu nguyện xin Cha Thiên Thượng Từ Ái thương yêu che chở, cứu giúp chúng tôi. Chúng tôi rất được an ủi ở các lời hứa của Chúa Giê-xu trong Tin lành Giăng chương thứ 14: "Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở. Ta đi sửa soạn cho các con một chỗ... Ta sẽ trở lại tiếp rước các con; hầu cho Ta ở đâu thì các con cũng ở đó". Đọc những lời lẽ đầy trìu mến này, hỏi ai không lên tinh thần?

Đó là bí quyết tiềm tàng và lớn nhất mà gia đình chúng tôi đã vượt thắng hoàn cảnh cùng khốn, ngặt nghèo".