Tìm kiếm

Lời Chúa cho bạn hôm nay:

OpenBible Hãy ở với nhau cách nhơn từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy. Ê-phê-sô 4:32

Carey William

CAREY WILLIAM

(1761-1834)

William Carey xuất thân là con người tầm thường, nhưng đã làm việc với quyền năng phi thường. Người có công thổi một luồng khí sinh động truyền giáo toàn cầu, mở đầu cho các làn sóng truyền giáo khắp thế giới vào thế kỷ 19 và 20.

William Carey ra đời ở Paulerspury, thành phố Northamtonshire, nước Anh, là con trai của một thư ký bán hàng và thầy giáo nghèo tại địa phương. Ông trở lại tin thờ Chúa Giê-xu năm 1779 qua một người bạn cùng học nghề đóng giày với ông. Ông đã bất bình với người chủ tiệm giày và bỏ đi. William Carey thọ Thánh lễ Báp-têm thuộc hệ phái Báp-tít để chính thức làm tín nhân của giáo phái này năm 1783.

Nếu nói về "học vấn chính thức" tức là tính số năm học ở nhà trường và vị học bằng cấp, thì William Carey chẳng có bao nhiêu, nhưng nói về "tri thức" thì ít ai có thể sánh kịp ông. Nhờ có một đức tính cần cù, hiếu học một cách mãnh liệt và một quyết tâm sắt đá, William Carey đã miệt mài tự học và đọc được rất nhiều sách. Về ngoại ngữ, thì William Carey học tiếng La tinh, Hy-lạp và Hi-bá-lai để nghiên cứu Thánh Kinh bằng nguyên tác. Ngoài ra, để giao dịch ông còn thông thạo tiếng Italia, Hòa Lan và Pháp. Sau một thời gian thực tập giảng dạy ở địa phương mình, William Carey đã trở nên một mục sư ở Moulton (năm 1785) và tới vùng Harvey Lane, Leicester (1789). Tại một Hội Thánh Báp-tít ông đã chịu ảnh hưởng sâu sa của nhà Thần học người Hòa Lan là Jonathan Edwards, và chính ông này cũng là nguồn động lực quan yếu thúc đẩy ông dấn thân ra đi truyền giáo hải ngoại. Một yếu tố nữa, sau khi đọc tập Nhật ký của ông thuyền trưởng James Cook, một nhà hàng hải và thám hiểm nổi danh người Anh, William Carey liền bị thu hút chú ý đến những bộ lạc man dại đang sống ở các cụm đảo thuộc biển Thái Bình. Vậy William Carey kết luận: "Giáo hội phải có trách nhiệm đem Tin lành đến cho các bộ lạc này." Dầu sáng kiến của ông đã bị các nhà lãnh đạo Giáo hội lúc ấy bác bỏ thẳng thừng, nhưng William Carey không hề chịu thua. Đồng thời ông cố gắng thu thập các tin tức, chi tiết thật chính xác để viết một tập sách mỏng nhan đề "Khảo cứu về nghĩa vụ của người Cơ Đốc trong việc dùng các phương tiện để truyền giáo cho các dân tộc ngoại đạo" (An Enquiring into the Obligation of Christians to use Means for the Conversion of the Heathen) sách ra mắt năm 1792. Ông tin rằng "sứ mạng lớn nhất của Chúa Krit là truyền bá Phúc Âm cho tất cả đồng loại" và hiệu lệnh này vẫn còn được áp dụng cho bất cứ Cơ Đốc nhân nào. Tập sách này được kể là tài liệu cổ động và là lời hiệu triệu tâm huyết nhất nhằm thúc đẩy các hoạt động truyền giáo nổi tiếng nhất trong lịch sử.

Cùng năm đó, ngày 30-5-1792, William Carey đã được mời giảng dạy một bài bùng cháy lửa Thánh Linh cho hiệp hội các mục sư Báp-tít ở Nottingham. Ông giục lòng các tín nhân Cơ Đốc: "Hãy trông cậy và cầu xin những việc vĩ đại từ Đức Chúa Trời" và "Hãy cố gắng làm những việc vĩ đại cho Đức Chúa Trời". Cũng tại đấy ông có dịp tốt nói lên vấn đề truyền giáo và kích thích giới hữu quan trong Giáo hội hãy mau chóng bắt tay hành động nữa. Cuối cùng có một thành quả trực tiếp, Hội đồng quyết định thành lập "Hội phổ biến Tin lành cho người ngoại" và tháng 10-1793, Hội truyền giáo Báp-tít đã được khai sáng. Đó cũng chính là tổ chức truyền giáo ngoại quốc đầu tiên đúng danh nghĩa, có qui củ đã được thiết dựng phong trào phục hưng Tin lành. Mặc dù gây được xúc động mạnh mẽ cho khối thính giả đó, nhưng người hành động quyết liệt không ai khác hơn là William Carey! Thật vậy, ông đã tình nguyện làm giáo sĩ đầu tiên của Hội, lúc ấy ông được 31 tuổi. William Carey là nhà truyền giáo trước tiên thuộc Cải chánh giáo hệ phái Báp-tít đến Ấn Độ năm 1793. Năm 1801 ông bị cấm hoạt động trong vùng người Đan Mạch cai trị ở Serampore. Dầu vậy ông cũng đã lập được một căn cứ truyền giáo và sau đó có thêm 5 người khác đến cộng tác với ông.

William Carey và gia đình đã dùng thuyền đến Ấn Độ sau năm có hội đồng (1739). Mở đầu, ông làm đốc công cho nhà máy nhuộm ở Bengali (1794-1799), một công ty đã thu dụng để ông tự túc tài chánh. Mỗi năm ông chỉ làm cho họ 3 tháng, vậy ông có nhiều thì giờ rỗi rãi để học ngôn ngữ Đông phương để tranh thủ thời gian. Năm 1799, ông đã được kết nạp vào Giáo hội Báp-tít ở Serampore, gần thành phố Calcutta do hai tín hữu hệ phái này là Joshua Marshman và William Ward chấp thuận. Và trong vòng một phần tư thế kỷ tiếp theo ba người này đã cộng tác chặt chẽ với nhau cốt mở rộng các mạng lưới truyền giáo trong các khu vực bên trong và bên ngoài Bengal. William Carey cũng đã cùng với ông bà Adoniram Judson và Lather Rice là những người truyền giáo tiên phong luôn luôn thành công trong lãnh vực truyền giáo ở thời cận đại.

Nói về tính hiếu học của ông, cũng là điểm đáng nêu bật lên ở đây. Khi không có đủ tiền mua sách mình muốn xem, William Carey liền tìm mượn sách và đọc ngấu nghiến, ghi chép say sưa cho tới khi hoàn toàn nắm vững vấn đề trong đó, hiểu thấu đáo nội dung ấy, ông mới đem trả. Nhờ lối học đó, ông đã trở thành chuyên gia thực vật học.

Về sự nghiệp văn hóa, William Carey đã hoàn tất được nhiều công trình thuộc các địa hạt khác nhau. Ông đã phiên dịch Thánh Kinh Tân Ước ra tiếng Bengali, và được giao cho phụ trách dạy các ngôn ngữ tại trường Cao đẳng Ford William năm 1801. Cho đến năm 1824, William Carey đã đôn đốc và giám sát việc hoàn tất sáu bản dịch Thánh Kinh toàn bộ và hai mươi bốn bản dịch từng phần Thánh Kinh khác, cũng như cho ra đời 6 quyển văn phạm và 3 quyển Từ điển lớn và các bản dịch các sách về Đông phương học. Bởi đó tên tuổi và ảnh hưởng của ông lan rộng ra trong giới trí thức cũng như chính phủ. Có những đầu óc hẹp hòi là "các học giả tháp ngà" đã phê bình vài bản dịch đầu của ông có vẻ vội vàng và mắc phải sai lầm, khó hiểu. Nhưng nhìn chung công bình mà nói về mặt tích cực thì các công tác của ông so với một người trẻ tuổi ít có cơ hội học hành nghiêm túc và là người đi hàng đầu trên lãnh vực tự học, thì ông quả là người uyên bác.

Song song với việc xuất bản Thánh Kinh, báo chí, tư liệu sách vở, thì một Hội Thánh cũng lớn lên nhờ lượng tín hữu gia tăng. Cuối năm 1812 có 350 người đã chịu Báp-têm và 11 kỳ hội đồng được tổ chức. Những tờ báo do William Carey chủ tên bằng các ngôn ngữ A-rập, Iran, Tehyu, Bengali, Marathi, Trung Hoa, Hy-lạp, Y-sơ-ra-ên và Anh ngữ cũng lần lượt được phát hành. Bỗng nhiên một cuộc hỏa hoạn xảy ra đã thiêu hủy tất cả những cơ nghiệp ấn loát của ông.

William Carey cũng là đầu trưởng khởi xướng ra việc rao giảng Tin lành qua các trường học, là người đã cưu mang lý tưởng cho trường Cao đẳng học viện ở Serampore. Ông cũng đã thành lập hội khuyến nông Ấn Độ (1820) và đề xuất cải tiến những việc thuộc ngành nông, thực vật học (tiền thân của tổ chức Linnacan tiếp đó, năm 1823). Ông William Carey cũng chịu trách nhiệm một phần trong việc vận động (Campaigne) hủy bỏ hủ tục thiêu sống các góa phụ (Sati, tức tục lệ thiêu người vợ khi chồng qua đời) kể từ năm 1829 và những năm sau đó ông đã dịch sắc lệnh bãi bỏ cổ tục man rợ này ra tiếng Bengali, vì từ lâu ông luôn luôn hô hào, động viên bãi bỏ tục lệ tàn ác này, thì nay ngày mong đợi đã đến. Sự tận hiến cuộc đời William Carey cho đất nước và nhân dân Ấn Độ mà ông không khi nào hối tiếc hay rút lui. Tính khôn ngoan thực tiễn của ông đã minh chứng rõ rệt qua việc ông hối thúc những Cơ Đốc nhân người Ấn hãy đứng lên chia sẻ Phúc Âm cho chính đồng bào của họ.

William Carey, cha đẻ của Đoàn truyền giáo Tin lành Ấn Độ, người có công gieo rắc hạt giống Phúc Âm tại một miền đất đầy mê tín, thờ lạy tà thần mà bây giờ đã có hàng triệu người bản xứ trở thành tín đồ tốt của Đấng Krist. Người thợ vá giày cùng đinh ngày xưa đã dịch phần lớn Thánh Kinh ra trên 10 thứ tiếng. Ông có một ý chí phấn đấu rất mãnh liệt, một sức làm việc không hề suy giảm, như nhiều người viết tiểu sử của ông về sau đã tôn vinh ông: " William Carey không bao giờ bỏ dở một công việc gì nếu việc đó chưa hoàn tất."